Thương hàn luận – Điều 31

Thái dương bệnh, hạng bối cương thù thù, vô hãn ố phong, Cát căn thang chủ chi.

Dịch nghĩa:
Mắc bệnh Thái dương, phần cổ gáy và lưng cứng đờ không thoải mái, ngoài da không có mồ hôi, người thấy sợ gió, dùng Cát căn thang để chủ trị.
Tóm tắt:
Chứng trạng và cách trị chứng Thái dương biểu thực, kinh mạch không thông suốt.
Giải thích sơ lược:
Chứng trạng của điều văn này giống với Quế chi gia cát căn thang trong điều 14, đều là “hạng bối cương thù thù” (phần cổ gáy và lưng cứng đờ không thoải mái), người thấy sợ gió, điểm khác biệt chỉ là có ra mồ hôi hay không, trong điều 14 có mồ hôi, nên dùng Quế chi thang gia thêm một vị Cát căn, còn điều văn này mồ hôi không ra, nên bài thuốc trong điều văn này gia thêm Ma hoàng.
Chú giải chọn lọc:
Thành Vô Kỷ: Mắc bệnh Thái dương, nếu lưng gáy cứng đờ, ra mồ hôi mà sợ gió thì đó là chứng Trúng phong biểu hư; Còn nếu lưng gáy cứng đờ, không có mồ hôi mà sợ gió, thì đó là chứng Trúng phong biểu thực. Biểu hư thì cần dùng phép giải cơ, biểu thực thì nên phát hãn, nay dùng đến Cát căn thang để phát tán biểu tà.
Phương Trung Hành: Không có mồ hôi do mắc phải Thương hàn, vì thế mồ hôi không ra, nó đối lập với chứng ra mồ hôi trong thiên trước trước, qua đó dùng để phân biệt phong và hàn. Sợ gió là từ ngữ tương hỗ với sợ lạnh, gặp gió hay lạnh đều thấy sợ, chứ không thiên về có hay không.
Phân tích:
Thành Vô Kỷ cho rằng chứng hậu ở đây là Trúng phong biểu thực chứ không phải Thương hàn, có thể vì trong điều văn chỉ đề cập tới sợ gió mà không nhắc đến sợ lạnh. Thực tế trong chứng Ma hoàng thang cũng chỉ nhắc đến sợ gió. Phương Trung Hành nhận thấy nguyên nhân do mắc phải Thương hàn, có khả năng ông căn cứ vào biểu hiện không ra mồ hôi, nhưng Thương hàn thì tất phải có sợ lạnh, mà trong điều văn lại không hề nhắc đến, do đó ông nêu ra “gió hay lạnh thì đều thấy sợ”. Nếu nhìn nhận theo tính chất của chứng hậu thì cho dù Trúng phong hay là Thương hàn thì nó đều thuộc phong hàn, cho nên không cần cố phân rạch ròi ra, chỉ cần phân biệt có mồ hôi hay không là đủ, có mồ hôi dùng Quế chi gia cát căn thang, không có mồ hôi thì dùng Cát căn thang.
Bài thuốc Cát căn thang:
Cát căn 4 lạng
Ma hoàng 3 lạng (bỏ đốt)
Quế chi 2 lạng (bỏ vỏ)
Sinh khương 3 lạng (thái mỏng)
Cam thảo 2 lạng (chích)
Thược dược 2 lạng
Đại táo 12 quả (đập nát)
Bảy vị thuốc trên, dùng 1 đấu nước, đem đun Ma hoàng và Cát căn trước, để thuốc rút đi 2 thăng, vớt bọt rồi cho các thuốc khác vào, sắc tiếp còn 3 thăng, bỏ bã, uống thuốc ấm 1 thăng, đắp chăn để ra mồ hôi dâm dấp, nghỉ ngơi và cấm kỵ giống trong phần Quế chi thang, các bài thuốc khác cũng như thế.
Chú giải bài thuốc:
Vương Tấn Tam: Cát căn thang chính là Quế chi thang thêm Ma hoàng và tăng gấp đôi Cát căn để xua đi cái thực ở phần doanh, nó là biến đổi nhỏ của Ma hoàng và Quế chi thang. Cát căn và Ma hoàng trị doanh vệ thực, Thược dược và Quế chi trị doanh vệ hư, trong bài hư thực đi với nhau, điểm tinh diệu là ở cách sắc. Trước tiên đun Ma hoàng và Cát căn, giảm đi hai thăng, sau đó cho các thuốc khác vào, như thế có nghĩa là trước tiên phát hãn tại doanh vệ, sau đến cố biểu thu âm, không để cho tà nhiệt truyền vào Dương minh. Cho nên Trọng Cảnh chữa những bệnh Thái dương mà chưa truyền vào Dương minh thì dùng nó để khu tà, chặn đường đi vào Dương minh của tà khí. Nếu Dương minh đang bị bệnh thì các bài thuốc chủ trị không bao giờ có Cát căn, Đông Viên (Lý Cảo – Lý Đông Viên), Dịch lão (Trương Nguyên Tố) đều cho rằng Cát căn là thuốc chủ đạo của kinh Dương minh thì thật sai lầm.
Kha Vận Bá: Thuốc nhẹ có thể xua đi cái thực, đó chính là Ma hoàng và Cát căn. Bỏ bọt đi là chỉ dùng ý “thanh dương phát tấu lý” (khí thanh dương phát tán ở bì phu, tấu lý, cơ nhục), Cát căn có thể hỗ trợ Ma hoàng phát tán biểu tà, giúp Quế chi giải cơ. Không cần ăn cháo nóng vì mở tấu lý ra thì mồ hôi sẽ tự ra, làm mát cơ nhục thì mồ hôi tự dừng, như vậy dùng thuốc mát phát tán để khu phong chứ không cần thuốc ôn trung để đuổi tà.
Lại nói: Cát căn có vị ngọt, khí mát, có thể khởi động âm khí để sinh tân dịch, nuôi dưỡng gân mạch để nó co duỗi thoải mái, cho nên làm thuốc quân; Ma hoàng và Sinh khương có thể mở huyền phủ (lỗ chân lông) và tấu lý đang bị đóng chặt, khu phong để mồ hôi ra, cho nên làm thuốc thần; Phát sốt và sợ lạnh đều nhẹ, vì thế dùng một ít Quế, Thược cùng với Cam, Táo làm thuốc tá để hài hòa phần lý, có thể nói đây là bài thuốc điều hòa biểu lý, suy tính mức độ nặng nhẹ giữa hai bài Ma hoàng thang và Quế chi thang. … Vì Quế chi thang và Cát căn thang đều là thuốc giải cơ hòa lý, cho nên có mồ hôi hay không, tiêu chảy hay không đều có thể dùng được, nó khác với Ma hoàng thang chuyên trị phần biểu.
Phân tích:
Cát căn thang có tác dụng giải cơ phát hãn, đưa tân dịch đi lên, làm gân mạch thoải mái, nó không những có thể trị chứng “hạng bối cương thù thù” do kinh mạch Thái dương không thông suốt, mà còn có thể trị chứng tiêu chảy do biểu tà bức ép vào bên trong. Cát căn có thể cổ động tân dịch tại Trường Vị ra ngoài đi đến cơ biểu, cho nên chữa trị các chứng lưng gáy đau cứng, tiêu chảy thì đều có hiệu quả tốt. Kha Vận Bá chỉ ra “Quế chi thang và Cát căn thang đều là bài thuốc giải cơ hòa lý, khác với Ma hoàng thang chuyên trị biểu”, cách phân tích này khớp với thực tế. Vương Tấn Tam cũng rất phủ nhận quan điểm “Cát căn là thuốc chủ đạo của kinh Dương minh”, việc dám hoài nghi người xưa, không bị bó buộc bởi suy nghĩ truyền thống của ông rất đáng để chúng ta nghiêm túc học tập.
Phạm vi ứng dụng của bài thuốc:
1. Viêm màng não mô cầu khuẩn.
2. Cảm cúm.
3. Viêm kết mạc cấp.
4. Viêm tai giữa.
5. Viêm xoang mũi có mủ, viêm mũi dị ứng.
6. Cổ vai gáy đau mỏi, co rút, các khớp và cơ bắp tay chân đau mỏi.
7. Đau đầu vùng trán, thiên đầu thống.
8. Viêm dạ dày mãn, viêm đại tràng mãn.
9. Nổi mề đay, bệnh eczema, chứng ngứa da.
10. Viêm bao hoạt dịch khớp gối, tràn dịch khớp sau phẫu thuật sụn chêm khớp gối.
Y án chọn lọc:
Bệnh nhân họ Tôn, nữ 42 tuổi, đau bụng, tiêu chảy, phân có máu đã 5 năm. Mỗi ngày đại tiện bảy tám lần, thường hay đau bụng. Nội soi đại tràng phát hiện: kết tràng xuống xuất hiện một số chỗ loét niêm mạc, niêm mạc xung huyết. Bệnh nhân đã từng uống thuốc Đông Tây y đều không có hiệu quả. Hiện tại triệu chứng gồm: Cổ gáy cứng, không ra mồ hôi, sợ gió, hai tay có lúc tê bì. Mạch phù khẩn, rêu lưỡi trắng, rìa lưỡi có vết răng. Biện chứng: Thái dương và Dương minh hợp bệnh, phong hàn phạm biểu, tà khí làm tổn thương đường ruột. Nguyên tắc điều trị: Giải cơ hòa lý, thăng dương chỉ tả. Đơn thuốc: Cát căn 12g Ma hoàng 9g, Quế chi 6g, Bạch thược 6g, Sinh khương 6g, Cam thảo 6g, Đại táo 3 quả, Địa du than 15g. Sau khi uống 3 thang, đại tiện ra máu ngừng, hết đau bụng, số lần đại tiện giảm xuống một ngày hai ba lần, mạch vẫn như trước. Đơn thuốc: đơn cũ gia thêm Kha tử 12g. Uống tiếp 6 thang thì hết các triệu chứng lâm sàng. Sau khi điều trị 3 tháng, kiểm tra lại không phát hiện thấy niêm mạc kết tràng xuống có biểu hiện bất thường. (Trích từ “Kinh phương lục”)
Phân tích:
Viêm đại tràng mãn là bệnh thường gặp trên lâm sàng, bệnh tình tương đối dai dẳng, y án này chữa trị theo hợp bệnh Thái dương và Dương minh, dùng Cát căn thang gia Địa du than có hiệu quả, cuối cùng thêm Kha tử kết thúc quá trình điều trị. Như thế đủ để chứng minh nhị dương hợp bệnh không để chuyên chỉ bệnh ngoại cảm cấp tính. Phàm là các trường hợp vừa có phong hàn ngoại tà, lại có bệnh đường ruột tiêu chảy, đều có thể dùng Cát căn thanh chủ trị. Trong bài này thêm hai vị thuốc là Địa du than và Kha tử rất đáng để suy nghĩ, nếu không dùng hai vị thuốc đó thì sẽ không có hiệu quả tốt như vậy, nó rất có ý nghĩa trong việc vận dụng cổ phương như thế nào.
Bs. Nguyễn Hoài Văn biên dịch.
(Ảnh chụp từ sách “Chú giải Thương Hàn Luận” của Thành Vô Kỷ trong “Tứ khố toàn thư”)
Nguồn bài viết: https://www.facebook.com/thaomochahuytoai.hht/posts/3540982179313466
Các bài viết khác có thể bạn chưa xem

You may also like...