Thương hàn luận – Điều 29:

Thương hàn, mạch phù, tự hãn xuất, tiểu tiện sác, tâm phiền, vi ố hàn, cước loan cấp, phản dữ Quế chi dục công kì biểu, thử ngộ dã. Đắc chi tắc tiện quyết, yết trung can, phiền táo thổ nghịch giả, tác Cam thảo can khương thang dữ chi, dĩ phục kì dương; Nhược quyết dũ túc ôn giả, canh tác Thược dược cam thảo thang dữ chi, kì cước tức thân; Nhược Vị khí bất hòa, chiêm ngữ giả, thiểu dữ Điều vị thừa khí thang; Nhược trùng phát hãn, phục gia thiêu châm giả, Tứ nghịch thang chủ chi.

Dịch nghĩa: Mắc bệnh Thương hàn, xuất hiện mạch phù, mồ hôi tự ra, số lần đi tiểu tăng nhiều nhưng lượng nước tiểu giảm đi, trong lòng buồn bực không yên, sợ lạnh ít, hai chân co quắp khó duỗi ra, nhưng thầy thuốc lại dùng Quế chi thang để giải biểu, cách chữa này là sai lầm. Sau khi uống Quế chi thang, liền thấy tay chân lạnh, cổ họng khô, trong người bứt rứt không yên, nôn mửa, khí nghịch, dùng Cam thảo can khương thang để hồi phục dương khí. Nếu sau khi uống mà tay chân chuyển ấm thì tiếp tục dùng Thược dược cam thảo thang, hai chân co quắp lập tức có thể duỗi ra; Giả sử gặp phải Vị táo với triệu chứng nói mê sảng, thì có thể cho uống một ít Điều vị thừa khí thang; Nếu vì phát hãn tiếp, lại dùng thiêu châm khiến vong dương thì lấy Tứ nghịch thang để chủ trị.
Tóm tắt: Phương pháp sửa sai sau khi dùng nhầm Quế chi thang điều trị chứng âm dương lưỡng hư của bệnh Thương hàn khiến bệnh tình nặng thêm, và hai loại biến chứng có khả năng xảy ra và cách điều trị chúng.
Giải thích sơ lược:
Điều văn trước tiên đề cập tới hai từ “Thương hàn”, điều đó có nghĩa lả bệnh thuộc ngoại cảm, nhưng chứng hậu lâm sàng lại thuần là biểu hiện âm dương lưỡng hư, vì thế rất dễ chữa sai. Ví dụ mạch phù, mồ hôi tự ra, sợ lạnh ít, những triệu chứng này có vẻ rất giống với chứng Quế chi thang, nhưng chứng Quế chi thang đáng lý không bao gồm các biểu hiện như “tiểu tiện sác” (số lần đi tiểu tăng nhiều nhưng lượng nước tiểu giảm đi), “Tâm phiền” (trong lòng buồn bực bất an), “cước loan cấp” (hai chân co quắp khó duỗi ra). Tiểu tiện sác do dương hư, tân dịch hao tổn, Bàng quang mất kiểm soát, tâm phiền, cước loan cấp cũng do dương khí âm dịch đều hư nhược. Ở trên thì Tâm thần mất đi nuôi dưỡng, ở dưới gân mạch không được tưới tắm, như vậy chẩn đoán gặp rất nhiều khó khăn, dựa theo đó suy luận tất cả bệnh tình thì mạch phù, tự ra mồ hôi, sợ lạnh có thể là do biểu dương hư, tấu lý không đóng chặt chứ không phải là Quế chi thang chứng. Nếu đã không phải là Quế chi thang chứng mà lại dùng Quế chi thang thì đương nhiên là sai lầm, cho nên sau khi uống Quế chi thang thì bệnh tình lại càng thêm nghiêm trọng.
Chứng âm dương lưỡng hư, trái lại dùng Quế chi thang để công biểu, tất sẽ làm dương khí và âm dịch lại càng tổn thương, dương hư không thể phân bổ đến tứ chi nên gây “quyết lãnh” (tay chân lạnh), âm dịch không đi lên cổ họng thì cổ họng khô, dương hư hàn thịnh, âm dương bị ngăn cách thì “phiền táo” (bứt rứt không yên), nôn mửa, khí nghịch. Cách cứu chữa lúc này theo lý thì có thể tiến hành đồng thời hồi phục dương khí và bổ ích âm dịch, nhưng đây cũng không phải là phương án tốt nhất, nếu muốn nâng cao hiệu quả điều trị thì tốt nhất là nên hồi phục dương khí trước, sau đó bổ ích âm dịch. Vì thế trước tiên dùng Cam thảo can khương thang với vị cay ngọt hóa dương, đợi tay chân ấm lại rồi mới tiếp tục dùng Thược dược cam thảo thang với vị chua ngọt hóa âm, âm dịch hồi phục thì hai chân tự khắc sẽ co duỗi tự nhiên.
Đoạn sau kinh văn đưa ra hai ví dụ về biến chứng có khả năng xảy ra, để chỉ bảo cho người học cách tùy chứng cứu trị. Có một số chú gia xem hai cách điều trị này là công thức cố định thì không sát thực tế. Một trường hợp biến chứng là Vị táo mà sinh ra “chiêm ngữ” (nói sảng), nhưng xét cho cùng thì bệnh vốn dĩ do âm dương lưỡng hư, vì thế chỉ nên dùng lượng ít Điều vị thừa khí thang để điều hòa Vị phủ, tiết nhiệt ra ngoài, đây là biện pháp chữa sai tạm thời, dùng chữ “thiểu dữ” (dùng một ít) là có chừng mực nhất, trong đó ẩn ý cần phải thận trọng. Còn về “nhược trùng phát hãn, phục gia thiêu châm” (nếu tiếp tục phát hãn, lại dùng thiêu châm), như vậy đã sai lại thêm sai, là biến chứng do tiếp tục uống Quế chi thang khiến bệnh tình nặng thêm. Từ đó xuất hiện cục diện vong dương, vậy nên dùng Tứ nghịch thang cấp cứu hồi dương. Tổng quan điều văn, nó thể hiện đầy đủ phương pháp biện chứng phân tích cụ thể, tùy chứng luận trị một cách linh hoạt, tuyệt đối không phải là ghi chép sai mà rất có ý nghĩa chỉ dẫn.
Chú giải chọn lọc:
Thành Vô Kỷ: Mạch phù, mồ hôi tự ra, tiểu tiện nhiều mà sợ lạnh là do dương khí không đủ; Tâm phiền, hai chân co quắp là do âm khí không đủ; Âm dương khí huyết đều hư nhược thì không được phát hãn, nếu lấy Quế chi thang công biểu, thì lại làm tổn thương dương khí, cho nên gọi là sai. Sau khi uống Quế chi thang, tay chân lạnh, cổ họng khô, trước tiên cho uống Cam thảo can khương thang để hồi phục dương khí làm cho chân tay ấm lại. Cho uống Thược dược cam thảo thang để bổ ích âm dịch, như thế hai chân co duỗi được ra. Âm dương tuy hồi phục, nhưng Vị táo, nói sảng, cho uống một ít Điều vị thừa khí thang khiến đại tiện hơi lỏng để điều hòa Vị phủ. Nếu lại phát hãn thì vong dương, thêm thiêu châm thì tổn hại đến âm. Sách “Nội kinh” viết: “Doanh khí suy yếu, nếu dung thêm thiêu châm thì huyết dịch không trôi chảy”. Phát hãn cộng với thiêu châm làm khí âm dương hư nhược nhiều, vì thế dùng Tứ nghịch thang để hồi phục khí âm dương.
Cố Thượng Chi: Vốn là chứng Quế chi gia phụ tử thang, sai ở chỗ là không gia thêm Phụ tử. Thuốc có vị cay với tác dụng phát tán sẽ làm cho dương khí vọt lên, cho nên dùng Cam thảo can khương thang để hồi phục nó, thuốc có vị cay ấm sẽ làm âm khí bên trong hao tổn, vì thế dùng Thược dược cam thảo thang để điều hòa. Âm dịch hao tổn, tà khí đi vào Dương minh, nên cần dùng Điều vị thừa khí thang; Dùng thiêu châm đẫn đến vong dương lần nữa nên phải dùng Tứ nghịch thang.
Trình Giao Sảnh: Mắc bệnh Thương hàn, mạch phù, mồ hôi tự ra, đi tiểu nhiều, biết được đó là dương hư, cho dù có chứng giả nhiệt là buồn bực không yên, nhưng lại có chứng chân hàn là sợ lạnh, hai chân co quắp làm bằng, lúc này ôn kinh tán hàn cũng không có gì quá mạnh. Nhưng thầy thuốc trái lại cho uống Quế chi thang để công biểu, không phải sai thì là cái gì. Dương khí ở trong đi ra cùng dương khí ở biểu, âm hàn lập tức xuất hiện với triệu chứng chân tay lạnh, đây chính là chứng chân hàn; Cổ họng khô, bứt rứt không yên là do dương khí phù việt, âm dịch cạn kiệt, đây là chứng giả nhiệt; Nôn mửa, khí nghịch là do âm thịnh ngăn cách với Thượng tiêu. Hư hàn kết tụ bên trong thì không có lý do gì để công biểu, sai là ở chỗ dùng Quế chi thang, sao có thể phạm sai lầm lần nữa khi cho Đại thanh long thang? Vì thế dùng Cam thảo can khương thang để tán hàn ôn lý hồi dương, dương hồi lại thì chứng quyết tự khỏi, tay chân ấm lại. Nếu chân tay chưa duỗi ra được thì do âm khí chưa đi xuống dưới, dùng Thược dược cam thảo thang dẫn từ phần dương đến âm thì chân sẽ duỗi ra. Nếu nói sảng thì nguyên do vì trong Vị không hài hòa mà tân dịch khô cạn, khác với việc trong Vị có thực nhiệt, vì thế chỉ cần cho một ít Điều vị thừa khí thang để điều hòa mà thôi. Nếu lần trước sai bởi phát hãn lại hay dùng thiêu châm thì xu thế vong dương đã hình thành, âm tà sẽ phạm lên trên, trực tiếp dùng Tứ nghịch thang ôn ấm là được.
Uông Linh Hữu: Thương hàn trong điều văn này chính là chứng Trúng hàn. Mạch phù, tự ra mồ hôi, tiểu tiện sác là dương hư, khí không thu nhiếp được; Tâm phiền là chân dương hư thoát, khí của nó nổi lên mà đi lên trên; Sợ lạnh ít là đã thấy hình dáng của chân hàn; Hia chân co quắp là do hàn vào âm kinh, huyết mạch ngưng kết, ứ tắc mà co quắp lại. Lúc này phải lập tức ôn kinh tán hàn, nhưng trái lại lại dùng Quế chi thang để công biểu, không phải sai lầm thì là cái gì. Uống thuốc xong thì chân tay lạnh là do công biểu phát hãn càng làm tổn thương dương khí, dương càng hư thì tay chân tất sẽ lạnh. Cổ họng khô, bứt rứt không yên là vì phát hãn làm tân dịch hao tổn, dương hư phiền táo, chỉ là hiện tượng giả nhiệt mà thôi. Nôn mửa, khí nghịch do âm hàn khí thịnh ngăn chặn ở hoành cách. Do đó dùng Cam thảo can khương thang tán hàn ôn trung để hồi phục dương khí, như thế chứng quyết sẽ khỏi, tay chân tự ấm trở lại. Chân ấm thì đã có thể duỗi ra, nếu chân không duỗi thì có nghĩa là tuy dương khí quay lại nhưng âm huyết vẫn chưa hài hòa, vì thế đổi thành Thược dược cam thảo thang để điều hòa doanh huyết, hai chân liễn được duỗi ra. Giả như Vị khí bất hòa gây ra nói sảng, thì có nghĩa là trước đó tân dịch trong Vị đã bị các thuốc cay nóng như Quế chi và Can khương làm hao tổn, sách “Thương hàn luận hậu điều biện” có viết “đây không giống như thực nhiệt trong Vị”, cho nên dùng một ít Điều vị thừa khí thang để điều hòa nó, gọi là phép tòng trị. Nếu không biết chứng hậu này không được phát hãn mà lại phát hãn lần nữa, cộng thêm với thiêu châm thì dương khí tiêu vong, âm huyết ngưng kết, sao có thể không cấp tốc dùng Tứ nghịch thang để hồi dương phục âm đây. Vì trong Tứ nghịch thang có Chích cam thảo có thể sinh huyết.
Triệu Tự Chân: Mạch phù là hư. Tự ra mồ hôi, sợ lạnh ít do dương hư không bảo vệ bên ngoài được. Tiểu tiện sác do Hạ tiêu hư hàn không chế ngự được thủy. Buồn bực là âm hư huyết ít. Hai chân co quắp do phát hãn làm huyết hư, huyết không thể nuôi dưỡng gân mạch mà thành. Bệnh mới mắc do biểu lý cùng hư nhược, ngoài không có dương chứng, tà khí không ở biểu, cho nên không được uống Quế chi thang. … Về chứng nói sảng, bắt nguồn từ việc tiểu tiện sác, tự ra mồ hôi, khiến tân dịch trong Trường Vị ít đi, cộng thêm với việc uống thuốc có tính táo là Can khương, sẽ dẫn đến Dương minh nội kết, không phải do tà thực gây ra, cho nên chỉ dùng một ít Điều vị thừa khí thang để điều chỉnh nó mà thôi. Thứ tự dùng thuốc trên đây là nhiệt trước hàn sau, bổ trước tả sau, có vẻ như nghịch mà thực tế là thuận, không phải là Trọng Cảnh thì sao có thể tinh diệu như thế!
Trần Tu Viên: Nhiệt thịnh thiêu đốt gân mạch, cho nên hai chân co quắp, đồng thời có thể ngộ ra rằng mạch phù, tự ra mồ hôi, tiểu tiện sác đều thuộc nhiệt chứng, cho dù có một triệu chứng sợ lạnh ít thì cũng suy được ra biểu chứng sợ lạnh dần lui, có nghĩa là uất nhiệt bên trong mạnh dần, nó rất giống như chứng Quế chi thang, nhưng thực chất khác nhau hoàn toàn.
Phân tích:
Giải thích của các nhà đối với điều văn này có sự khác nhau tương đối lớn, có người cho rằng là biểu chứng kiêm âm dương lưỡng hư, nên là chứng Quế chi gia phụ tử thang. Có người nhận thấy đó chỉ là âm dương lưỡng hư, gần giống như chứng Quế chi thang, thực tế không có biểu chứng. Có thầy giải thích chỉ là thuần dương hư, các chứng như cổ họng khô đều là giả nhiệt. Có người cho rằng đây là chứng dương thịnh uất nhiệt. Nếu xem điều 30 “Chứng tượng Dương đán, an pháp trị chi nhi tăng cự” (chứng trạng giống như chứng Dương đán, chữa theo chứng Dương đán mà bệnh tình lại nặng thêm), như thế ở đây chưa chắc đã là biểu chứng, do đó cách lý giải âm dương lưỡng hư, trong đó dương hư là chủ yếu thì tương đối xác đáng. Còn cách nói nhiệt thịnh uất nhiệt thì có phần khiên cưỡng, nếu thuộc về nhiệt quyết (còn gọi là dương quyết, vì nhiệt tà kháng thịnh gây ra chứng chân tay lạnh), thì Cam thảo can khương thang làm sao có thể sử dụng được. Nếu không , tùy tiện gán ghép, thì chẳng thể nào phân định được đúng sai nữa. Tinh thần chủ đạo của điều văn chính là đưa ra giả thiết biến chứng, có một số chú gia cho rằng đây là biến đổi trước sau bệnh tình của một người, vì thế mà cách giải thích tự mâu thuẫn lẫn nhau, ví như Triệu Tự Chân lý giải tự ra mồ hôi, tiểu tiện sác, trước thì quy cho dương hư, sau lại bảo là tân dịch khô cạn.
Bài thuốc Cam thảo can khương thang:
Cam thảo 4 lạng (Chích)
Can khương 2 lạng
Hai vị thuốc trên, dùng 3 thăng nước, sắc lấy 1 thăng 5 hợp, bỏ bã, chia 2 lần uống ấm.
Giải thich bài thuốc:
Trần Cung Phổ: Cam thảo can khương thang là bài thuốc ôn Tỳ thổ để sinh âm dịch, phàm dương khí của hai kinh Thủ túc Thái âm không đủ khiến tân dịch không sinh ra thì đều có thể dùng bài này.
Phương Trung Hành: Cam thảo ích khí, Can khương trợ dương, phục dương, bổ khí.
Phân tích:
Bài này dùng vị ngọt của Cam thảo, vị cay của Can khương, cay ngọt kết hợp, có thể coi là một nửa bài Lý trung thang, chú trọng tại hồi phục dương khí tại Trung tiêu, một khi dương khí ở Trung tiêu hồi phục thì có thể giàn trải tứ phương, làm cho chứng quyết được khỏi. Liều lượng thuốc của bài này cũng hết sức quan trọng, Cam thảo gấp đôi Can khương, vị ngọt mạnh hơn vị cay, cho nên có thể cố thủ Trung tiêu mà hồi phục dương khí.
Phạm vi ứng dụng của bài thuốc:
1. Vị thống thể Trung tiêu hư hàn.
2. Nôn ra máu thể Tỳ Vị dương hư.
3. Chứng phế nuy thể Phế kim hư hàn, ho khạc ra nước bọt.
4. Di niệu thể Phế khí hư hàn.
Y án chọn lọc:
Bệnh nhân họ Kiều, nữ, 19 tuổi, làm thợ học nghề. Bệnh nhân từ nhỏ đã có thói quen đái dầm, cho đến bấy giờ bất kể mùa đông hay mùa hè, gần như đêm nào cũng đái dầm. Mấy năm gần đây đã đi khắp tứ phương tìm thầy cứu chữa, có lúc thì có hiệu quả ngắn, nhưng không được lâu. Lúc đến khám, sắc mặt bệnh nhân nhợt nhạt, không thích uống nước, tay chân không ấm, mạch trầm. Chẩn đoán là Phế hư không chế ngự Hạ tiêu, hạ nguyên hư hàn (hạ nguyên: nguyên khí tại hạ tiêu).
Đơn thuốc: Chích cam thảo 15g, Can khương 15g, Bạch quả 10g, Ích trí nhân 10g, sắc uống ngày 1 thang. Bệnh nhân uống đến thang thứ 10 thì thấy hiệu quả rõ rệt, tổng cộng uống hơn 40 thang, sau đó chọn bài này làm viên hoàn, tiếp tục uống thuốc nửa năm thì khỏi bệnh. (Trích từ “Kinh phương phát huy”)
Phân tích:
Chứng Di niệu do Bàng quang mất kiểm soát, cách chữa bình thường là bổ Thận cố sáp, tuy có chút hiệu quả nhưng không lý tưởng. Trong y án này, thầy thuốc chủ yếu dùng phép ôn Phế lại thu được hiệu quả như ý muốn, rất có ý nghĩa tham khảo. Trong sách “Triệu Thủ Chân y án” cũng có ghi chép về một bệnh án di niệu, dựa theo luận điểm của Trương Cảnh Nhạc là “Nếu Phế khí mất kiểm soát, thì Thận thủy chung quy cũng không thu nhiếp được, cho nên trị thủy trước tiên cần trị khí, trị Thận trước tiên cần trị Phế”, Triệu Thủ Chân dùng Cam thảo can khương thang (Chích cam thảo 24g, Bào khương 9g), một ngày 2 thang, 3 ngày sau thì di niệu giảm dần, sau 5 ngày thì các chứng đều hết. Có thể đạt được hiệu quả tốt như thế, ngoài việc phương và chứng khớp nhau thì lượng Cam thảo gần gấp 3 lần Can khương mới có tác dụng. Tác dụng dược lý của bài thuốc như thế nào thì còn cần nghiên cứu thêm.
Bài thuốc Thược dược cam thảo thang:
Bạch thược dược 4 lạng
Cam thảo 4 lạng (Chích)
Hai vị thuốc trên, dùng 3 thăng nước, sắc lấy 1 thăng 5 hợp, bỏ bã, chia 2 lần uống ấm.
Chú giải bài thuốc:
Kha Vận Bá: Tỳ không vận hành tân dịch cho Vị để tưới tắm bốn phương, vì thế chân có quắp, dùng Cam thảo để sinh tân cho Dương minh, Thược dược để hòa dịch cho Thái âm, chân lập tức duỗi ra, đây cũng là phép dụng âm hòa dương.
Thành Vô Kỷ: Bạch thược thì bổ, Xích thược thì tả, bạch thì thu mà xích thì tán. Dùng vị chua để thu nhiếp, vị ngọt để hòa hoãn, chua ngọt kết hợp có thể bổ âm huyết.
Tiền Thiên Lai: Co quắp là do gân không co duỗi thoải mái. Gân là chỗ tụ hợp của kinh túc Quyết âm Can. Gân không thoải mái thì co quắp, dùng vị chua để tả, dùng vị ngọt để hòa hoãn, đây là chủ trị của Quyết âm và Thiếu dương.
Trần Cổ Ngu: Thược dược có vị đắng, Cam thảo vị ngọt, đắng và ngọt kết hợp, có chút khí vị của Nhân sâm, cho nên đại bổ âm huyết, huyết được bổ thì gân được nuôi dưỡng mà co duỗi ra.
Phân tích:
Thành Vô Kỷ và Trần Cổ Ngu giải thích tác dụng phối ngũ của bài thuốc chủ yếu thông qua tính vị, mặc dù khác nhau ở chỗ chua ngọt và ngọt đắng, nhưng kết luận lại thống nhất đều là bổ âm huyết, kiểm nghiệm qua lâm sàng thì nó thực sự có tác dụng về mặt đó, nhưng nếu nói quá lên là “đại bổ âm huyết” thì có phần thiếu xác thực. Còn về cơ chế điều trị triệu chứng hai chân co quắp của bài này, Kha Vận Bá cho rằng là thông qua chức năng vận chuyển tân dịch của Tỳ Vị, Tiền Thiên Lai lại hướng tới mối quan hệ giữa Can và gân, chủ yếu là tả Can hoãn Can mà đạt được mục đích điều trị. Thực chất, Cam thảo và Thược dược cùng sử dụng có liên quan cả đến cả Can và Tỳ. Dựa theo ghi chép trong sách “Thần Nông bản thảo kinh” và “Danh y biệt lục”, Thược dược còn có tác dụng “trừ huyết ứ, phá kiên tích”, “phân tán máu tụ, xua đuổi tặc huyết”, trong “Danh y biệt lục” có ghi chép Cam thảo có tác dụng “thông kinh mạch, lợi huyết khí”. Qua đó cho thấy Thược dược và Cam thảo cùng dùng thì không những có thể bổ âm huyết mà còn thông thuận huyết mạch, phá trừ huyết ứ. Vì thế cho nên bài này ứng dụng rộng rãi trong các trường hợp đau do co rút đều có hiệu quả rõ rệt. Qua đó có thể thấy, nếu chỉ nhấn mạnh tác dụng bổ ích của bài thuốc thì sẽ là phiền diện.
Phạm vi ứng dụng của bài thuốc:
1. Phát sốt do âm dịch tổn thương, huyết hư.
2. Thấp nhiệt cước khí. Sách “Ngụy thị gia tàng phương” đặt tên là Lục bán thang (Bạch thược 6 lạng, Cam thảo 2 lạng).
3. Chân yếu không có sức. Sách “Chu thị tập nghiệm phương” lấy tên là Khử trượng thang (Xích thược 6 lạng, Chích cam thảo 1 lạng).
4. Cơn đau thắt ngực.
5. Đau vùng bụng và thượng vị do co thắt dạ dày và đường ruột.
6. Đau thắt do sỏi mật, sỏi thận.
7. Bắp chân co rút.
8. Cơ mặt co rút. Uống kèm 1,5g bột Toàn yết.
9. Đau dây thần kinh tam thoa, đau dây thần kinh trên hố. Dùng liều lượng lớn uống hết một lúc.
10. Trẻ con khóc dạ đề
11. Bệnh cột sống cổ. Phối hợp với thuốc hoạt huyết.
12. Triệu chứng toàn thân co giật. Thêm Đương quy, Câu dằng, Mộc qua.
13. Bệnh nhược cơ. Thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ, Ô mai.
Bài thuốc Điều vị thừa khí thang (Xem trong thiên “Dương Minh bệnh”)
Bài thuốc Tứ nghịch thang (Xem trong thiên “Thiếu Dương bệnh”)
Y án chọn lọc:
Chị Tứ mắc chứng đi bộ lâu thì chân sưng đau và tím, lúc đầu chỉ là chân phải, sau đó đau đến chân trái. Tuy trời lạnh nhưng không muốn gần lửa, gần lửa thì càng đau nặng, cho nên tuy là rất sợ lạnh nhưng vẫn phải chịu đựng. Nhưng thời tiết lạnh quá thì lại đau, nằm ngủ đến sáng sớm thì hết sưng đau, đến đêm lại tái phát, Nếu là bệnh Lịch tiết, thì chân cũng sưng, nhưng không giảm bớt, nay sưng có lúc giảm thì chứng tỏ không phải là bệnh Lịch tiết. Chỉ có lúc đau nặng thì gân cơ co rút, trước tiên dùng Thược dược cam thảo thang làm gân cốt thoải mái. Đơn thuốc: Xích thược, Bạch thược mỗi vị 1 lạng, Sinh cam thảo 8 tiền. Uống 2 thang thì khỏi. (Trích từ “Kinh phương thực nghiệm lục”)
Phân tích:
Y án này không phải là bệnh Thương hàn chữa nhầm, nhưng dựa theo các đặc điểm chân sưng, sắc da màu tím, khi đau nặng thì cơ gân co rút, thử dùng bài này mà trong 2 thang đã khỏi, hiệu quả nhanh như thế thật có chút bất ngờ. Sau y án này còn có kèm theo kinh nghiệm dùng Thược dược của Ngô Ngưng Huyên: “Thược dược có thể hoạt huyết ở tĩnh mạch” và “phàm là gân xanh bộc lộ rõ, da gân co giật, dùng Thược dược rất có hiệu quả”.
Bs. Nguyễn Hoài Văn biên dịch.
(Ảnh chụp từ sách “Chú giải Thương Hàn Luận” của Thành Vô Kỷ trong “Tứ khố toàn thư”)

You may also like...