Thương hàn luận – Điều 27

Thái dương bệnh, phát nhiệt ố hàn, nhiệt đa hàn thiểu; Mạch vi nhược giả, thử vô dương dã, bất khả phát hãn; Nghi Quế chi nhị Việt tì nhất thang.

Dịch nghĩa: Mắc bệnh Thái dương, phát sốt, sợ lạnh, sốt nhiều lạnh ít, có thể chữa bằng Quế chi nhị việt tỳ nhất thang. Nếu như mạch vi nhược, thì đây là dấu hiệu của dương hư, không được phát hãn.
Tóm tắt: Triệu chứng và cách chữa bệnh Thái dương biểu uất hóa nhiệt.
Giải thích sơ lược:
Nội dung điều văn này nói tới Thái dương biểu chứng kéo dài lâu ngày, phát hãn không đúng cách làm cho tà khí uất kết không được giải trừ, hình thành chứng hậu “ngoại hàn nội nhiệt” (ngoài lạnh trong nóng), chuyển biến bệnh lý của nó cũng giống như chứng Đại thanh long thang. Mạch vi nhược biểu thị dương hư, không được phát hãn, nó cũng giống như điều cấm kị là mạch vi nhược không được uống Đại thanh long thang, chỉ là bệnh tình tương đối nhẹ mà thôi. Do điều văn trình bày chứng trạng ngắn gọn, giản lược, cho nên có một số khó khăn nhất định về mặt lý giải, nhưng chỉ cần so sánh với các điều văn trước và sau thì vẫn có thể tìm ra đầu mối.
Nếu đã đề cập đến bệnh Thái dương thì tất phải có mạch phù, đầu gáy cương cứng; Thông qua biểu hiện “nhiệt nhiều hàn ít”, ta có thể suy ra vẫn còn nhiệt chứng như tâm phiền, miệng khát; Từ mặt đối lập với “mạch vi nhược không được phát hãn” thì mạch trong điều văn phải là phù đại có lực. Qua đó ta có được những nhận thức toàn diện về chứng trạng trong điều văn này. “Mạch vi nhược giả, thử vô dương dã” chính là ngữ pháp nghịch đảo, “vô dương” là dương hư, nếu mạch đã lộ ra dấu hiệu dương hư thì đương nhiên không thể dùng hãn pháp để phát hãn được nữa. Đa số các chú gia đều cho rằng “không được phát hãn” để chỉ các bài thuốc có tính cay ấm như Ma hoàng thang hay Quế chi thang, đúng chỉ thích hợp dùng Quế chi nhị ma hoàng nhất thang. Cũng có người chủ trương Quế chi nhị việt tỳ nhất thang là bài thuốc có tính cay mát giải biểu nhẹ. Nhưng nếu nhìn các thuốc trong bài này thì đa số là các vị có tính ôn nhiệt, chỉ có mỗi một vị Thạch cao tính hàn dùng liều lượng vẻn vẹn có 24 thù, với lượng thuốc cay ấm như vậy mà quy thành cay mát thì không xác đáng.
Chú giải chọn lọc:
Chương Hư Cốc: Điều văn này cần chia làm hai đoạn, “nghi Quế chi nhị việt tỳ nhất thang” nối sau “nhiệt đa hàn thiểu”, nay đưa nó xuống cuối, đấy chính là phép đảo nghịch trong văn phong thời Hán. Nếu mạch vi nhược, gọi đó là vô dương, làm sao lại có thể phát hãn tiếp được nữa? Trọng Cảnh vì thế đưa ra điều cấm kị cho người sau, sách răn dạy rằng, “bất khả phát hãn” (không được phát hãn), đoạn này cho xuống cuối thì lời văn sẽ rõ ràng, không phải bàn cãi. Tên bài thuốc trong “Ngoại đài bí yếu” viết là “Việt tỳ” (chữ “tỳ” trong “Tỳ Vị”), nay viết là “Việt tỳ” (chữ “tỳ” trong “nô tỳ”), đây là do sai sót khi sao chép.
Ngô Nhân Câu: Từ “vi” ở đây là “vi thậm” (ít nhiều), chứ không phải “vi tế” (nhỏ mảnh), chỉ là không quá mạnh mà thôi. Nếu đã nói nhiệt nhiều thì mạch làm sao là mạch vi được? “Vô dương” để chỉ dương tà tại biểu ít, cho nên không được phát hãn quá nhiều, “nhiệt đa” là do nhiệt tà tại phần cơ mạnh, cho nên hỗ trợ bằng Thạch cao. “Việt tỳ” là sức vượt ra ngoài, ví như chức vụ của nô tỳ bó hẹp, phối ngũ của bài thuốc không mở rộng như Đại thanh long thang.
Uông Linh Hữu: Bốn chữ “bất khả phát hãn” phải viết là “bất khả phát đại hãn” vì mạch người bệnh vi nhược, do vô dương mà tân dịch ít.
Từ Linh Thai: “Vô dương” ở đây khác với vong dương, nó cũng khác với dương hư ở những chỗ khác. Vì người bệnh vốn không cường tráng, tà khí cũng yếu, cho nên người có hàn nhiệt mà mạch lại vi nhược, nếu phát hãn thì tất dẫn đến “xoa thủ tự mạo Tâm, tề hạ quý”” (tay người bệnh bắt chéo ôm trước ngực, dưới rốn giần giật), cho nên dùng bài này thanh sơ doanh vệ, cho mồ hôi ra ít mà bệnh được giải trừ. Hơn nữa nhiệt nhiều hàn ít, nhiệt tại phần khí, cho nên dùng Thạch cao là tốt nhất, cổ nhân dùng thuốc kỹ lưỡng như vậy đó.
Trần Tu Viên: Hai chữ “vô dương” ở đây là chỉ dương khí lọt vào phần âm, tức là không có chứng hậu về biểu dương, không được phát hãn, cho nên dùng Việt tỳ thang, trong đó Thạch cao nặng mà trầm, đưa cái dũng mãnh của Ma hoàng đến tận lý âm, cùng với Quế chi thang đi ra cơ biểu mà khỏi bệnh.
Phân tích:
Đưa bài thuốc chủ trị về cuối sau luận chứng là một trong những đặc điểm văn pháp của “Thương hàn luận”, điều văn này là một ví dụ cụ thể. Rất nhiều chú gia không rõ ý nghĩa này, giải thích men theo câu chữ, luận bàn lẫn lộn “mạch vi nhược giả, thử vô dương dã” với chứng “Quế chi nhị Việt tỳ nhất thang”, gây ra nhiều sai lầm, ví dụ như Ngô Nhân Câu giải thích “từ vi ở đây là vi thậm chứ không phải vi tế”, Uông Linh Hữu giải thích “bất khả phát hãn phải viết là bất khả phát đại hãn”, Từ Linh Thái cho rằng “vô dương ở đây khác với vong dương, nó cũng khác với dương hư ở những chỗ khác”, Trần Tu Viên thì cho rằng “hai chữ vô dương ở đây là chỉ dương khí lọt vào phần âm”, v.v… Chỉ có cách giải thích của Chương Hư Cốc là không bị ràng buộc bởi các thuyết khác, ông đưa ra luận điểm riêng của mình, chỉ ra câu cuối “nghi Quế chi nhất Việt tỳ nhị thang” là ngữ pháp đảo nghịch trong văn phong thời Hán, đây là lời giải cho nghi hoặc từ ngàn năm, không hổ là người biết đọc sách. Còn về các lý giải về hai chữ “Việt tỳ” rất khó đoán định ai đúng ai sai, người học không cần nghiên cứu sâu.
Bài Quế chi nhất Việt tì nhị thang:
Quế chi (bỏ vỏ) 18 thù
Thược dược 18 thù
Ma hoàng 18 thù
Chích cam thảo 18 thù
Đại táo 4 quả (đập nát)
Sinh khương 1 lạng 2 thù (thái mỏng)
Thạch cao 24 thù (đập vụn, bọc vải)
Bảy vị thuốc trên, dùng 5 thăng nước, đun Ma hoàng cho sôi một hai lần, vớt bọt, cho các thuốc còn lại vào, sắc lấy 2 thăng, bỏ bã, uống ấm 1 thăng.
Chú giải bài thuốc:
Phương Trung Hành: Đặt tên tuy là Việt tỳ đi kèm với Quế chi, nhưng thực chất là bài kết hợp giữa Quế chi và Ma hoàng, với việc thay Hạnh nhân bằng Thược dược thì nó chính là bài biến phương từ Đại thanh long thang mà thôi. Bỏ Hạnh nhân vì sợ đặc tính theo dương và chủ về khí, dùng Thược dược vì nó đi vào âm, với vị chua để thu liễm. Dùng vị này thay cho vị kia rồi gọi là Quế chi nhị thì đủ biết bài thuốc không chủ về phát hãn, còn Việt tỳ nhất thì chỉ có hai vị là Ma hoàng và Thạch cao, khiến ta có thể biết được ẩn trong việc không phát hãn là thuốc phát hãn nhẹ.
Ngô Nhân Câu: Phát tán biểu tà thường dùng Thạch cao đi kèm, vì Thạch cao tính hàn, hàn thắng được nhiệt, vị của nó mỏng, mỏng có thể đi ra biểu, khác với Hoàng liên, Hoàng cầm có tính hàn vị đắng đậm mà không thể thăng đạt.
Y tông kim giám: Quế chi nhị việt tỳ nhất thang chữa phát sốt sợ lạnh, sốt nhiều lạnh ít, dùng Thạch cao vì hàn tà tại biểu ít còn lý nhiệt tại cơ nhiều, cho nên chọn tính mát của Thạch cao, thuốc tá lấy Ma hoàng và Quế chi để điều hòa doanh vệ chứ không để phát hãn ở doanh vệ.
Hứa Hồng: Chữ “Tỳ” trong điều văn cũng chính là chữ “Tỳ” trong Tỳ Vị, đó là do lâu ngày sao chép bị sai lệch. Chú giải của kinh văn tuy viết, Tỳ còn gọi là tạng thấp hèn ví như nô tỳ vậy, những lời này không phải của Thành Vô Kỷ mà do hậu thế khiên cưỡng chú giải thêm vào mà thôi. Cái gọi là Việt tỳ thang, chinh slaf ba vị Thạch cao, Ma hoàng, Cam thảo, dùng để phát việt chính khí của Tỳ, thông hành tân dịch, giải tán hư tán còn lưu lại trong kinh mà chưa ra được. Lập ra bài này vì nay mạch vi nhược, vô dương nên không dám phát hãn mạnh.
Uông Linh Hữu: Lấy hai phần Quế chi thang để tán phong tà, một phần Việt tỳ thang để trị uất nhiệt. Trong bài Việt tỳ thang, Thạch cao với vị cay tính mát để hóa giải uất nhiệt tại Trường Vị, như vậy nhiệt được hóa giải, tân dịch được sinh ra, Tỳ khí được phát việt, để vận hành Vị dịch. Trong “Ngoại đài bí yếu”, chữ “tỳ” trong nô tỳ được sửa thành chữ “tỳ trong Tỳ Vị
Phân tích:
Bài này chính là Quế chi thang thêm Ma hoàng, Thạch cao, trong đó Quế chi thang có tác dụng điều hòa doanh vệ, Ma hoàng và Thạch cao phát việt uất dương, vì thế nên chứng hậu mà bài thuốc chủ trị là biểu hàn lý nhiệt. Phương Trung Hành cho rằng với việc thay Hạnh nhân bằng Thược dược thì nó chính là bài biến phương từ Đại thanh long thang”, quả đúng như lời ông nói bài này đích thực chỉ khác Đại thanh long thang có một vị nhưng tác dụng lại có khác biệt rất lớn. Nói một cách chặt chẽ, Đại thanh long thang không thể gọi là bài thuốc gia giảm từ Quế chi thang, mà phải là Ma hoàng thang gia thêm Thạch cao, Sinh khương và Đại táo. Do đó, Đại thanh long thang chủ về khai tấu phát hãn, kiêm thêm thanh lý nhiệt. Huống hồ liều lượng của Đại thanh long thang rất lớn còn liều lượng của bài này rất nhỏ, khác nhau một trời một vực. Người học chỉ cần tiến hành so sánh một chút là có thể phân biệt được. Cách giải thích của các chú gia đều có giá trị tham khảo đối với việc lý giải bài thuốc.
Bs. Nguyễn Hoài Văn biên dịch.
(Ảnh chụp từ sách “Chú giải Thương Hàn Luận” của Thành Vô Kỷ trong “Tứ khố toàn thư”)

You may also like...