Thương hàn luận – Điều 22

Nhược vi hàn giả, Quế chi khử Thược dược gia Phụ tử thang chủ chi.
Dịch nghĩa: 21. Mắc bệnh Thái dương, sau khi dùng nhầm phép tả hạ, mạch trở nên nhanh gấp, vùng ngực đầy tức, dùng Quế chi khứ thược dược thang chủ trị. 22. Nếu mạch vi và sợ lạnh thì dùng Quế chi khứ thược dược gia phụ tử thang chủ trị.
Tóm tắt: Chứng trạng và điều trị chứng hung dương (dương khí ở vùng ngực) bị ngăn trở do dùng nhầm phép tả hạ cho bệnh Thái dương.
Giải thích sơ lược:
Mắc bệnh Thái dương, nếu dùng nhầm phép hạ thì rất dễ phát sinh ra biến chứng là biểu tà lọt vào bên trong. Triệu chứng “Hung mãn” (ngực đầy tức) là do hung dương bị tổn thương nên không triển khai, phân bố ra được, có điều hung dương tuy bị tổn thương nhưng tà khí cũng chưa hoàn toàn lọt hết vào trong, hung dương vẫn có xu thế mở rộng, điều này được phản ánh qua mạch xúc (mạch nhanh gấp). Nếu mạch không gấp rút thì có nghĩa là chính khí tổn thương nặng đến mức không còn đủ sức chống tà, tà khí tất sẽ lọt hết vào trong. Điều 34 có viết “mạch xúc giả, biểu vị giải dã” (mạch gấp rút thì biểu chứng vẫn chưa giải trừ), điều 140 viết “Thái dương bệnh hạ chi, kì mạch thúc, bất kết hung giả, thử vi dục giải dã” (Bệnh Thái dương dùng nhầm phép hạ, mạch người bệnh nhanh gấp, nhưng chưa xuất hiện chứng kết hung, báo hiệu tà khí chưa lọt vào trong mà bệnh có xu hướng được giải trừ). Cả hai điều văn này đều căn cứ vào mạch xúc để suy đoán tà khí có xu thế hướng ra ngoài. Kiểu mạch xúc này với mạch xúc do “dương thịnh” đều nhanh gấp, nhưng cơ chế gây ra chúng lại khác nhau, không thể lẫn lộn được. Mạch xúc trong điều văn này do hung dương bị ngăn trở muốn được mở ra, về bản chất thì nó do hung dương bất túc (dương khí ở ngực không đủ), âm tà tràn ngập, cho nên dùng vị cay ngọt của Quế chi thang để ôn thông dương khí, xua tà ra ngoài. Do Thược dược có vị chua tính hàn không thích hợp dùng khi dương hư bị ngăn trở, cho nên bỏ đi không dùng. Như vậy càng có lợi cho việc phát huy tác dụng ôn thông dương khí.
Nếu mạch vi, sợ lạnh thì chứng tỏ Vệ dương cũng yếu, cho nên gia thêm Phụ tử cay ấm, đại nhiệt để phục dương ôn kinh.
Chú giải chọn lọc:
Thành Vô Kỷ: Mạch nhanh, có nhịp dừng rồi đập lại gọi là mạch xúc. Không dùng nhầm phép hạ mà mạch xúc thì xúc là do dương thịnh. Trong điều văn này, sau khi tả hạ xuất hiện mạch xúc thì nguyên nhân không thể do dương thịnh. Mắc bệnh Thái dương mà đi tả hạ, mạch xúc, không xuất hiện chứng kết hung thì bệnh có xu hướng được giải trừ (điều 140). Còn nay, mạch xúc, ngực đầy thì bệnh không có xu hướng giải trừ. Vì sau khi tả hạ, dương khí hư nhược, biểu tà dần đi vào mà xâm phạm tới hung trung (giữa ngực). Dùng Quế chi thang để giải tán tà khí, lưu thông dương khí, do Thược dược có tác dụng ích âm, không thích hợp đối với dương hư, vì vậy bỏ nó đi. Dương khí đã hư nhược, nếu người có chút sợ lạnh thì tất phải thêm thuốc ấm để giải tán nó, vì thế gia thêm Phụ tử.
Trương Lệnh Thiều: Khí của Thái dương đi ra đi vào thông qua vùng ngực, nay sau khi tả hạ thì dương hư không thể ra vào trong ngoài, khiến cho khí ở trong ngoài không nối với nhau cho nên mạch xúc và ngực đầy, cần dùng Quế chi thang điều hòa khí của Thái dương để nó ra vào thuận lợi. Trong thiên Thái âm có viết: “Thiết đương hành Đại hoàng, Thược dược giả, nghi giảm chi” (Nếu cần phải dùng Đại hoàng, Thược dược thì cần giảm bớt liều lượng – điều 280). Vì Thược dược có vị đắng, tính tiết xuống, đặc biệt không nên dùng sau khi tả hạ, vì thế bỏ nó đi. Nếu không phải là mạch xúc mà là mạch vi, người thấy sợ lạnh thì có nghĩa là dương khí đã cực kì suy yếu, phải thêm Phụ tử chín để bổ ích cho nó.
Trình Giao Sảnh: Các kinh dương nhận khí từ vùng ngực, nếu dương khí ở Hạ tiêu suy yếu thì dương khí ở Thượng tiêu tán loạn mà không biết bám vào đâu, do đó không thể đưa khí lên đến ngực. Tà khí tuy chưa xâm phạm nhưng trọc khí lấp đầy trước làm cho ngực đầy, cho nên bài thuốc chủ trị giống như cho người bệnh “thoa thủ tự mạo tâm” (người bệnh bắt chéo tay ôm trước ngực – điều 64). Quế chi thang bỏ đi Thược dược chẳng qua là muốn đưa dương khí quay lại, để nó xoay chuyển mà không bị tán loạn, vẫn phân bố tại vùng ngực mà thôi.
Kha Vận Bá: Xúc là dương mạch, ngực đầy là dương chứng. Chứng dương thịnh có mạch xúc, nhưng chứng dương hư cũng có thể thấy mạch xúc. Chứng dương thịnh xuất hiện ngực đầy, nhưng chứng dương hư thì cũng có thể có. Nay sau khi tả hạ, mạch xúc nhưng không ra mồ hôi, ngực đầy nhưng không thở gấp, như vậy không phải là chứng dương thịnh mà do hàn tà kết tụ bên trong, sắp phát thành chứng kết hung. Bài Quế chi thang trong dương có âm, bỏ vị chua tính hàn của Thược dược thì âm khí lưu hành còn tà khí tự khắc không kết lại, đây cũng chính là bài thuốc phù trợ dương khí vậy. Nếu có chút sợ lạnh thì âm khí ngưng kết, e rằng khả năng của Sinh khương và Quế chi không đủ để giải tán, tất phải gia thêm vị cay nóng của Phụ tử.
Y tông kim giám: Điều văn trước (chỉ điều 34) nói mạch xúc, thở gấp, ra mồ hôi, không sợ lạnh, tiêu chảy không ngừng, cho nó thuộc thực nhiệt; Điều văn này nói mạch xúc, ngực đầy, ra mồ hôi, sợ lạnh ít, không thở gấp, không tiêu chảy, nhưng lại nói thuộc hư hàn, vậy là vì sao? Trong điều trước ra mồ hôi do lý nhiệt chưng bốc lên, cho nên ra mồ hôi nhưng không sợ lạnh, là dương thực, còn thở gấp và tiêu chảy, tất cả đều thuộc nhiệt. Tại điều văn này ra mồ hôi do biểu dương không vững chắc, cho nên ra mồ hôi nhưng sợ lạnh ít, là dương hư, không thở gấp, không tiêu chảy, tất cả đều thuộc hàn. Cần biết rằng cách lập pháp của Trọng Cảnh là tại những chỗ rất nhỏ thường có chỉ dẫn để người học phân biệt, vì sợ rằng những chỗ ấy các thầy thường bỏ qua không chú ý đến. Nay lấy triệu chứng sợ lạnh ít để phát huy ý nghĩa, mồ hôi có ra hay không không là điểm để phân biệt hàn nhiệt, mà lấy triệu chứng ra mồ hôi nhưng sợ lạnh hay không để phân biệt hàn nhiệt. Không phân biệt hàn nhiệt qua việc có mạch xúc hay không mà phân biệt trên cơ sở mạch xúc có lực hay không. Từ đây lại có thể biết được không chỉ phân biệt hư thực qua chứng ngực đầy, nhưng cần phân biệt hư thực thông qua biểu hiện ngực lúc đầy lúc không, thường đầy mà không giảm.
Phân tích:
Bất cứ mạch chứng nào đều cần được phân biệt hàn nhiệt hư thực, triệu chứng ngực đầy và mạch xúc cũng không ngoại lệ, đa số các chú gia đều xác nhận mạch xúc và chứng ngực đầy trong điều văn này thuộc chứng dương hư, điều này vô cùng chính xác. Nhưng họ lại đem ra so sánh cùng với các triệu chứng mạch xúc, tiêu chảy không ngừng, thở gấp, ra mồ hôi trong chứng Cát căn hoàng cầm hoàng liên thang tại điều 34, như vậy không xác đáng vì trong điều văn đó nêu rõ “mạch xúc do biểu tà chưa giải trừ”. Nếu biểu tà vẫn chưa giải trừ thì biểu chứng là sợ lạnh đáng lẽ phải còn tồn tại, nhưng trong so sánh lại nói mạch xúc, không sợ lạnh thuộc chứng dương thịnh, hiển nhiên mâu thuẫn với nguyên văn. Mặc dù nội dung chú thích vẫn còn nhiều chỗ chưa đủ chính xác cần xem xét lại nhưng phương pháp biện chứng vẫn có tác dụng mở lối chỉ đường cho người sau. Ví như sách “Y tông kim giám” viết: “Cách lập pháp của Trọng Cảnh là tại những chỗ rất nhỏ thường có chỉ dẫn để người học phân biệt, vì sợ rằng những chỗ ấy các thầy thường bỏ qua không chú ý đến”, đồng thời đưa ra ví dụ cụ thể, như thế giúp cho việc làm thế nào biện chứng trên lâm sàng.
Tống bản Thương hàn luận viết là “nhược vi hàn giả”, còn bản Thương hàn luận của của Thành Vô Kỷ lại viết là “vi ố hàn giả”, đa số các chú gia giải thích qua bề ngoài câu chữ, nếu quả thực sợ lạnh ít thì mức độ dương hư không nặng, cũng có khả năng biểu tà chưa hết, có vẻ như không cần thiết gia thêm Phụ tử. Đối với điều này Truơng Lệnh Thiều chú giải là “nếu không phải là mạch xúc mà là mạch vi, người thấy sợ lạnh thì có nghĩa là dương khí đã cực kì suy yếu”, như thế mới khớp với cơ chế bệnh. Trần Tu Viên gần như sao chép lại và đồng tình với cách chú giải của Trương Lệnh Thiều. Trong chú giải của Trình Giao Sảnh nói đến “cách chữa giống như cho người bệnh thoa thủ tự mạo tâm”, một cái có biểu hiện ngực đầy, một cái lại là tâm quý (tim đập hồi hộp), có vẻ rất xa nhau nhưng xem các vị thuốc của hai bài thì đều có Quế chi và Cam thảo, Quế chi khứ thược dược thang chỉ nhiều hơn Sinh khương và Đại táo mà thôi. Xét trên lâm sàng, những người mắc bệnh tim mạch đa phần nhịp tim nhanh, không đều, vùng trước tim đầy tức, đây không phải là tâm quý, mạch xúc, ngực đầy sao? Nó không hề do phát hãn hay công hạ gây ra, chỉ do nhiều chú gia bị ràng buộc bởi điều văn, nên mới xuất hiện nhiều suy diễn như vậy. Qua đó có thể thấy, Trình Giao Sảnh chú giải có lý.
Bài thuốc Quế chi khứ thược dược thang:
Quế chi 3 lạng (bỏ vỏ)
Cam thảo 2 lạng (chích)
Sinh khương 3 lạng (thái mỏng)
Đại táo 12 quả (đập nát)
Bốn vị thuốc trên, dùng 7 thăng nước, sắc lấy 3 thăng, bỏ bã, uống ấm 1 thăng. Cách nghỉ ngơi điều dưỡng giống như ở bài Quế chi thang.
Bài Quế chi khử Thược dược gia Phụ tử thang:
Quế chi 3 lạng (bỏ vỏ)
Cam thảo 2 lạng (chích)
Sinh khương 3 lạng (thái mỏng)
Đại táo 12 quả (đập nát)
Phụ tử 1 củ (nướng, bỏ vỏ, thái thành 8 miếng)
Năm vị thuốc trên, dùng 7 thăng nước, sắc lấy 3 thăng, bỏ bã, uống ấm 1 thăng. Cách nghỉ ngơi điều dưỡng giống như ở bài Quế chi thang.
Chú giải bài thuốc:
Trần Cung Phổ: Quế chi khứ thược dược thang là bài thuốc bảo vệ hung dương, tuyên phát Vệ dương. Phàm là tiêu chảy làm suy yếu Vị dương, khiến cho ngực đầy, đều có thể dùng bài này. Tả hạ thì làm yếu Vị ở Trung tiêu, Vị hư thì không thể chế ngự khí trọc âm của Hạ tiêu, làm cho trọc âm xâm phạm lên trên, vùng ngực vì thế đầy tức, khí của Thái dương bị ngăn cách bên ngoài mà không vào được cho nên mạch xúc. Quế chi và Cam thảo có thể bảo vệ Tâm dương, để khai mở hung dương, như thế thì khí của Thái dương ra vào thuận lợi mà mạch chuyển bình hòa; Sinh khương và Đại táo tuyên bổ Vị dương, để chế ngự khí trọc âm, như thế thì sẽ khỏi đầy tức ngực; Bỏ đi vị Thược dược vì nó là thuốc âm, lo ngại nó ích âm mà làm trở ngại Quế chi.
Trần Tu Viên: Nếu vong dương bên ngoài thì cần dẫn dương khí đi vào, Thược dược là vị thuốc tất phải dùng đến. Nếu dương suy bên trong thì cần chấn phấn dương khí, Thược dược là vị thuốc không nên dùng.
Trần Cổ Ngu: Yếu chỉ của “Thương hàn luận” đó là được dương thì sống, đoạn trước nói mồ hôi ra không ngừng sợ làm vong dương, điều này nói sau khi tả hạ, mạch xúc, ngực đầy cũng là lo ngại vong dương. Vì khí của Thái dương đi từ chí âm xâm phạm lên đến hung cách (ngực và hoành cách). Nay vì tả hạ làm tổn thương dương khí ở hung cách, khí trọc âm ở Hạ tiêu đi lên vị trí dương mà thành mãn (đầy). Mạch nhanh có lúc dừng lại gọi là mạch xúc, chữa trị cần gấp rút giải tán âm tà. Từ trong Quế chi thang bỏ đi vị Thược dược vì lo ngại nó làm âm tà lưu luyến. Nếu thấy triệu chứng sợ lạnh, thì tức là dương hư đã suy yếu nặng, chỉ mong chế ngự cái âm là chưa đủ, tất phải thêm Phụ tử chín để tráng dương mới có tác dụng. Giải thích của Dụ Gia Ngôn và Trình Phục Sinh đều sai.
Phân tích:
Các chú giải đều xác đáng, phân tích của Trần Tu Viên về việc dùng hay bỏ Thược dược ngắn gọn xúc tích, rất có giá trị tham khảo.
Phạm vi ứng dụng của bài thuốc:
1. Nhịp tim không đều thuộc thể Tâm dương hư dùng Quế chi khứ thược dược thang; Duơng hư tương đối nặng thì gia thêm Phụ tử.
2. Thoát vị bẹn.
3. Ngoại cảm, ho thể đương hư. Bài thuốc gia thêm Hạnh nhân.
Y án chọn lọc:
​ Bệnh nhân họ Lưu, hơn 30 tuổi. Mùa đông mắc bệnh Thương hàn, do uống nhầm thuốc xổ mà thành, khắp người sợ lạnh, bụng đầy chướng, đau tức, hai ngày không đi đại tiện, mạch phù đại hoãn. Đây rõ ràng thuộc chứng Thương hàn Trúng phong, thầy thuốc không quan sát kĩ, nhầm thành Dương minh phủ chứng mà dùng Đại hoàng, Mang tiêu để công hạ. … Làm cho hàn khí ngưng kết, trên dưới không thông, cho nên không đi đại tiện được, bụng càng chướng to, đau hơn. … Dùng Quế chi khứ thược dược gia phụ tử thang để ôn thông, làm như vậy thì Đại hoàng và Mang tiêu đã uống vào được thuốc dương giúp đỡ vận hành.
​ Đơn thuốc: Quế chi 3g, Hắc phụ tử 3g, Chích cam thảo 1.5g, Sinh khương 3g, Đại táo 2 quả (bỏ hạt)
​ Sau khi uống thuốc chưa đến 10 phút bệnh nhân đi ngoài 2 lần, sợ lạnh, bụng trướng đau đều hết mà khỏi bệnh. (Trích từ “Toàn quốc danh y nghiệm án loại biên”)
Phân tích:
Y án này tuy không xuất hiện mạch xúc hay ngực đầy nhưng dùng bài này lại có hiệu quả rõ rệt, mấu chốt là ở ôn thông dương khí, dương khí phấn chấn thì hàn khí ngưng tụ tự tan. Dùng Đại hoàng, Mang tiêu để công hạ mà đại tiện không thông, đổi thành thuốc ôn dương thì lập tức thông suốt, nguyên lý là ở đâu? Câu “Tỳ gia thực hủ uế đương khử” (Tỳ dương hồi phục thì những thứ hôi thối, mực rữa tích tụ được thải ra ngoài) trong điều 278 của thiên Thái âm bệnh có thể dùng làm đáp án tham khảo.
Bs. Nguyễn Hoài Văn biên dịch.
(Ảnh chụp từ sách “Chú giải Thương Hàn Luận” của Thành Vô Kỷ trong “Tứ khố toàn thư”)

You may also like...