benh tai bien mach mao nao

Triệu chứng và cách chữa trị bệnh tai biến mạch máu não

Đặc điểm chung của bệnh tai biến mạch máo não

Tai biến mạch máu là một loại bệnh lý rất quan trọng đối với người có tuổi vì rất thường hay gặp và tiên lượng cũng nghiêm trọng nhất.

Nó là nguyên nhân hàng đầu về bệnh tật và gây tàn phế có tính chất mãn tính cho người có tuổi.

Trên số người bị bệnh, gần một nửa bị tử vong trong thời gian vài giờ hay vài tuần lễ sau khi bị bệnh.

Trong số đó, 90% các bệnh nhân sống sót thường bị tàn phế về thể chất và suy kém về tâm thần.

Có thể phân chia làm 2 loại:

a)Tai biến chảy máu (20%) gây tử vong ngay sau đó.

b)Tai biến thiếu máu cục bộ 75%: tai biến thiếu máu cục bộ thoáng qua hay vĩnh viễn.

Tuổi tác và tình trạng hôn mê là các yếu tố dễ đưa tới tử vong cho bệnh nhân.

Chẩn đoán bệnh tai biến mạch máo não

Có thể phân chia làm 2 loại:

1) Chảy máu não không do chấn thương.

Triệu chứng:

Đau đầu khu trú, nôn xuất hiện sớm. Thường bệnh nhân còn tỉnh táo nhưng có khả năng xảy ra tất cả các tình huống có thể đưa đến hôn mê, các cơn động kinh khu trú hay lan tỏa. Nếu khu trú ở vùng vỏ bao đậu bệnh bắt đầu đột ngột, hôn mê sớm, xuất hiện liệt 1/2 người toàn bộ, cân xứng, liệt mặt kèm theo các rối loạn thần kinh thực vật. Tiên lượng nặng.

Trường hợp tụ máu trong não:

Bệnh diễn biến qua 3 thời kỳ:

a)Giai đoạn đầu: bắt đầu đột ngột đau đầu dữ dội. Suy yếu vận động, dạng liệt 1/2 người, đặc biệt chi dưới.

Mắt = bán mạnh cùng bên

b)Giai đoạn thứ hai: tiến triển tốt.

c)Giai đoạn thứ ba: diễn biến nặng, bệnh thứ phát vào ngày thử 7. về diễn biến có một số trường hợp cục máu đông tiêu tự nhiên.

Bọc máu đông trong tiêu não. Xuất hiện các triệu chứng sau đây:

Chóng mặt xoay tròn, đau đầu phía sau, nôn. Bệnh nhân không giữ được tư thế đứng, về diễn biến các rối loạn tiểu não không biểu hiện rõ ràng. Sau vài giờ có thể có hôn mê. Nếu có xuất huyết nội so nghiêm trọng, cần có chỉ định phẫu thuật.

2) Tai biến mạch máu não gẫy thiếu máu cục bộ.

Nguyên nhân chính: Xơ cứng động mạch. Trong trường hợp này cần phải tìm các yếu tố kết hợp như rối loạn nhịp -hạ huyết áp.

-Bên cạnh các tai biến do cục máu đông tại chỗ, có thể có các tai biến tắc mạch máu xuất phát từ tim (rối loạn nhịp kịch phát hoặc loạn nhịp hoàn toàn do rung nhĩ thường xuyên).

3) Tai biến mạch máu não thoáng qua.

Thường bệnh lui dần trong 24 giờ. Có thể xuất hiện các dấu hiệu như mù 1 bên mắt thoáng qua, rối loạn ngôn ngữ, chóng mặt, cơn đột qụy. Bệnh tiến triển có thể đưa đến phù não. Nếu là tai biến cố định, không thay đổi và không thuyên giảm, triệu chứng tùy thuộc ở động mạch như động mạch cảnh trong, động mạch não giữa -động mạch não trước, thân đáy- động mạch não sau. Các xét nghiệm cần làm để xác định chẩn đoán:

Điện tâm đồ. Khám đáy mắt

về sinh học: đường huyết, acid urique huyết. Chụp siêu âm cắt lóp. Điện não đồ, Scanner não

Nếu cần:

Chụp ảnh cộng hưởng từ trường hạt nhân

2. Điều trị: : Cách xử trí chia làm 2 giai đoạn.

1) Giai đoạn đầu: những biện pháp tiến hành:

a)Bảo đảm thông suốt đường hô hấp, đề phòng nghẽn khí quản.

b)Bảo đảm cân đối nước, điện giải

c)Đề phòng loét mục, co rút gân (vận động liệu pháp)

d)Xử trí rối loạn cơ thắt – thông nước tiểu chú ý u tuyến tiền liệt).

e)Dự phòng viêm tĩnh mạch và nghẽn động mạch phổi (chích dưới da Héparing 0,3 ml/ngày)

f)Cho ăn theo đường ngoài ruột

g)Cho thuốc giãn mạch như: Naftidrofuryl tiêm truyền 200mg (1 ống) trong 500 ml dung dịch đẳng trương trong 3 tiếng, thời gian: 7 ngày. Sau đó cho uống 2 viên/ngày

2) Lâu dài:

Điều trị các bệnh gây tai biến mạch máu não như cao huyết áp, bệnh tim mạch, đái đường, tăng choles¬terol huyết.

Bỏ thuốc lá.

Cho các thuốc chống kết dính tiểu cầu như Acétyl- salicylate lysing 1 gói/ngày; Dipyridamole 3 viên/ngày

Cần xử trí ngoại khoa đối với các mạch máu ngoại sọ.

Những điều cần cho bệnh nhân biết: Đa số các trường hợp tai biến mạch máu não nếu điều trị tốt sẽ diễn biến tốt, kết quả đôi khi rất là bất ngờ. Bệnh nhân cần thấy đó là một sự động viên để tập luyện tốt và kiên trì trong việc luyện tập.

Nên theo chế độ ăn nhạt, uống thuốc thường xuyên, đi lại vận động bình thường.

anh huong cua qua trinh lao hoa

Những ảnh hưởng của quá trình lão hóa trên cơ thể

-Quá trình lao hóa có nhiều ảnh hưởng trên hoạt động cơ thể:

1.Sự già hóa của tế bào

Trong quá trình lão hóa, tế bào mất dần khả năng tăng trưởng cả về thực thể ỉẫn chức năng. Trong các nguyên nhân gây lão hóa, các yếu tố ngoại lai chỉ có thể tác động đến mức độ nào nhung không thay được bản chất của lão hóa, mà chỉ có giảm được các yếu tố nguy cơ có liên quan đến lão hóa. Người ta nhận thấy nếu tránh được các bệnh về chuyển hóa và các rối loạn vi tuần hoàn trong cơ thể ià một biện pháp tác động tốt chống lại sự lão hóa về nguyên nhân nội tại. Thời kỳ mãn kinh là thời kỳ xẩy ra nhiều sự thay đổi về nội tiết làm cho quá trình lão hóa diễn biến nhanh hơn.

Chúng ta biết rằng khả năng tăng trưởng của tế bào tự nó đã có những giới hạn nhất định, do một phần các men điều chỉnh hệ thống DNA. Hệ thống này do chịu ảnh hưởng của một số vi rút gây ung thư và các loại vi rút khác, có tác động làm giảm sức hoạt động chức năng và thực thể của tế bào, làm cho quá trình lão hóa tiến nhanh hơn.

2.Tác động của các hocinon oestrogen trên sự xơ vữa các mạch máu

Các hocmon oestrogen tác động trên các chất lipit ở mạch máu và giảm nguy cơ bệnh tim mạch, có khả năng hạn chế được quá trình xơ vữa các thành mạch máu đặc biệt động mạch vành có nguy cơ gây bệnh tim mạch (làm đày và canxi hóa thành mạch máu). Hiện nay ở các nước Châu Âu bệnh mạch vành chiếm 14% tử vong của phụ nữ và 18% tử vong nam giới. Một điều đã được nhận thấy là các oestrogen tạo điều kiện làm giãn nở các mạch máu, làm chậm quá trình lão hóa. Đến tuổi mãn kinh, sự thiếu hụt các hocmon oestrogen là một yếu tố ảnh hưởng đến sự lão hóa trong có thể, làm tăng khả năng lão hỏa. Người ta nhận thấy qua quá trình lão hóa, da có nhiều thay đổi: thượng bì bị teo, các thớ đàn hổi giảm, các thành mạch máu giảm độ dày.

3.Ảnh hưởng của lão hóa trên hệ tiêu hóa

Ở những người cao tuổi, quá trình lão hóa ảnh hưởng trên bộ tiêu hóa làm tăng sản và phì đại niêm mạc, làm tiết xuất nhiều chất nhày, do hạn chế các sự trao đổi của các chất dinh dưỡng ở khu vực đó. Đồng thời làm tăng sự thay đổi đối với các nguyên tử tan trong nước và giảm đối với các nguyên tử tan trong dầu gây rối loạn tiêu hóa. Đặc biệt hiện tượng này hay gặp ở bệnh viêm teo dạ dày, gây kém tiêu hóa, chán ăn v.v…và gây khó khăn việc vận chuyển thức ăn xuông ruột (đối với các chất đặc).Các thay đổi đó làm giảm hiệu lực của các biện pháp nuôi cơ thể bằng các chất dinh dưỡng

4.Ảnh huỏng của lão hóa trên gan.

Trong các phủ tạng, thận, gan, ít chịu ảnh hưởng của quá trình lão hóa tuy sự chịu đựng của nó đối với việc thích nghi với các trường hợp bệnh lý có giảm đi. Sự thay đổi chủ yếu là do lưu lượng máu đến gan giảm đến 30% làm cho sự chiết xuất các hóa chất, sự chuyển hóa duợc phẩm giảm đi. Để tránh hiện tượng gây khó khăn, nên giảm liều thuốc đối với người già, đặc biệt khi dùng nhiều loại thuốc một lúc (đa trị liệu)… Ngược lại với gan, thận là một bộ phận bị tổn hại nhiều đối với quá trình lão hóa. về chức năng thận mất đi một số đơn vị chức năng thận quan trọng. Đặc biệt ở vỏ thận lưu lượng máu giảm, khả năng lọc qua cầu thận giảm sút (có khi xuổng dưới 40 ml/phút) do đó chức năng thải các chất cặn cơ thể kém làm ảnh hưởng đến việc dùng thuốc. Các sự thay đổi đó diễn biến khác nhau từ người này sang người khác.

5.Ảnh hưởng trên thần kinh,giác quan.

Trong quá trình lão hóa, hệ thần kinh, hóa già sớm, mật độ các ng rôn ở vỏ não bắt đầu giảm sớm, nhưng sự thoái triển không đều, tùy từng vùng ở não nên tác động có khác nhau, về thị giác khả năng thích nghi với ánh sáng yếu dần, về thính giác nhận cảm với các tần số cao cũng giảm. Trí nhớ, khả năng tư duy giảm dần.

6.Hệ tim mạch

Hệ tim mạch chịu nhiều ảnh hưởng quan trọng trong quá trình lão hóa, nhưng nhờ sự thích nghi của hoạt động sinh lý tim, tim cổ thể bảo đảm lưu lượng máu cần thiết cho sự sống, lúc nghỉ cũng như lúc gắng sức. Tiền gánh không có thay đổi đáng kể. Nhưng sự làm đầy tim trong thời kỳ tâm trương giảm chậm đi do sự phì đại tâm thất trái và xơ hóa cơ tim.

Hậu gánh tăng do sự thay đổi trong các thành động mạch trở nên xơ cứng và mất tính chất đàn hồi. Do các yếu tố nói trên, hoạt động của hệ tim mạch kém đi đáng kể.

7.Hệ hô hấp

Các trị số thông khí giảm rất sớm. Thông khí tối đa giảm dần, có thể đến 40% ở những người cao tuổi.

Dung tích sống hô hấp giảm dần. Thể tích cặn tăng 13 Cm3/m2 mỗi năm.

8.Ảnh hưởng trên hoạt động tinh thần tâm lý.

Do giảm tính linh hoạt trong dẫn truyền xung động, giảm tốc độ, giảm khả năng thụ cảm của các giác quan, đặc biệt là thị lực, thính lực nên sự hoạt động của người già cũng kém năng động.

Về hệ thần kinh cao cấp, do giảm khả năng ức chế và hưng phấn, giảm sự cân đối của hai quá trình đó, nên có nhiều rối loạn thần kinh thực vật (giao cảm và phó giao cảm).

Về phương diện tâm lý: về cảm xúc và tình cảm người cao tuổi cư xử kém linh hoạt, thờ ơ với mọi người chung quanh và mọi việc. Trí nhớ kém dần, đặc biệt đối với sự việc mới xảy ra, với các vấn đề trừu tượng.

Đối với các yếu tố xã hội: Người lớn tuổi dễ thấy mình cô đơn tình trạng sống cách biệt, tình cảm ít thoải mái trong lĩnh vực xã hội và văn hóa.

Các tình trạng cô đơn do lối sống, do góa bụa, tang chế đưa người già đến tình trạng trầm cảm.

Các điều kiện kinh tế cũng gây ảnh hưởng nhiều đối với người cao tuổi, đặc biệt làm cho họ không đủ sức khỏe bảo đảm cuộc sống.

Từ đó ta thấy việc tiếp xúc của các thành viên trong xã hội và gia đình có một vai trò hết sức quan trọng đến tâm lý người già và có một sức động viên giúp đỡ to lớn đối với cuộc sống của họ.

qua trinh lao hoa

Quá trình lão hóa cơ thể

Sự lão hóa cơ thể biểu hiện rõ bằng sự mất khả năng; thích nghi, khả năng điều hòa các bộ phận hơn là sự suy kém chức năng riêng lẻ của từng bộ phận.

Tốc độ già hóa phụ thuộc rất nhiều yếu tố nội và ngoại lai -các công trình nghiên cửu cho thấy sự thay đổi già hóa của các bộ phận muộn hơn là thay đổi bệnh lý do suy dinh dưỡng và các yếu tố bệnh lý khác.

Tuổi già càng cao thì các hằng số sinh lý (nhịp tim, tần số hô hấp) thay đổi cách biệt nhau ở cùng một lứa tuổi khác nhau do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Sự lão hóa diễn biến với tốc độ khác nhau ợ người này hay người khác tuy cùng lứa tuổi. Có người tuy ít tuổi hơn người khác nhưng lại bị lão hóa sớm hơn.

Sự hóa già cơ thể không đồng đều, và sự đổi mới cũng khác nhau như biểu mô ruột đổi mới nhanh, tế bào thần kinh lại không phân gián được.

Khi các tế bào thần kinh bị hủy, sẽ có những rối loạn về các chức năng như trí nhớ, có những thay đổi như thời gian các phản xạ kéo dài, các phản ứng chậm lại đối với sự thực hiện hoạt động, nhưng sự tập luyện đến mức độ nào có thể duy trì các hoạt động đó.

Bên cạnh đó, các rối loạn giác quan sẽ làm sai lệch các sự tiếp nhận các thông tin bên ngoài, làm cho phản ứng có thể thiếu chính xác, các phản xạ chậm, thị giác và thính giác bị giảm sút về chức năng, ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh hoạt của người già, cũng như sự hứng thú trong cuộc sống tình cảm đối với mọi người chung quanh các rối loạn thần kinh thực vật làm cho sự đáp ứng cơ thể đối với các yếu tố nội tại và ngoại lai bị giảm sút và chậm trễ -người già thấy ăn không ngon, không thích đi lại, vui choi, hoạt động trí tuệ cũng bị giảm sút. Về mặt vận động, sự giảm sút chức năng có ảnh hưởng đến sự hoạt động các khớp, cấu trúc các xương gân và làm cho người già chậm chạp, không đáp ứng kịp với các thay đổi của môi trường bên ngoài, nhưng bên cạnh sự già hóa những thay đổi bệnh lý do suy dinh dưỡng cũng làm cho các cơ yếu, giảm khối lượng và chất lượng và không đảm bảo yêu cầu vận động.

Bên cạnh các thay đổi. thực tế đó có sự trì trệ về trí tuệ, sự giảm sút về tâm thần, sự cô đơn về đời sống làm cho người già có một tâm lý cách biệc, tiêu cực. Bên cạnh tác động của lão hóa, chúng ta cần giúp cho người già sống khỏe mạnh, giữ được thăng bằng trong cuộc sống vì người ta có thể nhiều tuổi, nhưng thể chất, tâm thần còn trẻ, và nếu không có biện pháp để bảo vệ sức khỏe, sự vận động thì con người có thể bắt đầu già từ lúc 30 tuổi.

phong benh viem phoi o tre em

Phòng và chữa trị viêm phổi trẻ em

Viêm phổi là một chứng bệnh chính thường thấy ở trẻ em. Thời kì thơ ấu rất dễ bị viêm phổi, có quan hệ mật thiết với giải phẫu sinh lí hệ thống hô hấp. Như các khoang ống phế quản, phê quản tương đối chật hẹp, niêm dich tiết ra ít, lông tơ vận động còn kém, khó mà thanh trừ được các vi sinh vật hoặc các vật lạ, tổ chức đàn hồi của phổi phát triển kém, huyết quản phức tạp, rất dễ nhồi máu. Chất màng phổi phát triển dồi dào, mà số phế nang ít, phổi chứa lượng khí oòn ít, các niêm dịch dễ làm tắc nghẽn. Hơn nữa, vòm ngực của trẻ thợ có dạng thùng tròn, xương sườn cỏ dạng nằm ngang, cơ hô hấp phát triển kém, nên độ vận động của lồng ngực nhỏ, lực hô hấp kém.

Ngoài ra, ở độ tuổi này, chức năng miễn dịch còn chưa hoàn chỉnh, rất dễ mắc phải bệnh truyền nhiễm, bệnh thiếu dinh dưỡng, bệnh còi xương. Những nhân tố nội tại đó làm cho trẻ thơ dễ xảy ra viêm phổi, thậm chí viêm phôi nặng. Trẻ dưới 1 tuổi sức miễn dịch còn rất kém, nên viêm phổi dễ khuếch tán lây lan sang cả hai lá phổi. Những trẻ ở độ tuổi lớn hơn và có thể chất khỏe mạnh, tính phản ứng của cơ thể dần dần được hoàn chỉnh, năng lực chống viêm nhiễm tăng cường, chỉ viêm một bên phổi.

Do tỉ lệ viêm phổi tương đối cao nên đây là một trong những nguyên nhân tử vong chủ yếu của trẻ thời kì sơ sinh, do vậy phải thận trọng hết sức.

chuom nong cho be

Cách chườm nóng giúp trẻ ấm áp, dễ chịu

Chườm nóng có thể làm cho trẻ ấm áp, dễ chịu, cơ bắp thư giãn, huyết quản lưu thông mà giảm nhẹ chỗ đau, xúc tiến máu tuần hoàn, và tăng nhạnh sự hấp thụ chất thấm ra, có tác dụng tiêu viêm, tiêu thũng.

Chườm nóng chia làm hai loại, nóng ướt và nóng khô. Khi chườm nóng bằng phương pháp nóng ướt, trước hết bôi một ít dầu ở chỗ cần chườm nóng (dầu vaseline hay đầu ăn đều được), che lên một lớp vải mỏng, dùng khăn mặt nhỏ hay vải cũ gập thành mảnh, ngâm vào nước sôi, lấy ra vắt khô, phủ lên chỗ đau, ở phía trên có thể dùng tấm khăn khô đắp mục đích để giữ nhiệt độ, 3 -5 phút thay một lần. Cũng có thể đặt túi đựng nướv nóng trên tấm vải chườm để duy trì nhiệt độ.

Khi chườm nóng bằng phương pháp nóng khô dùng nước nóng với tỉ lệ 2/5 nước sôi 3/5 nước lạnh để vào trong túi nước nóng, đặt từ từ túi nước nóng nằm ngang, làm cho nước chảy đến miệng túi, đẩy hết không khí trong túi ra ngoài, vặn chặt nắp lại, chúc ngược túi nước nóng lên xem thử nước có dò ra không, sau đó lau thật khô mặt ngoài của túi nước nóng, kẹp thử vào nách không nóng bỏng là vừa, dùng vải hoặc khăn mặt bọc lại, đặt lên chỗ cần chườm nóng.

Chườm lạnh và xoa lau cồn

Chườm lạnh có tác dụng làm cho huyết quản co lại, giảm đau, cầm máu, không cho làm mủ, dùng đề trấn tĩnh, hạ nhiệt toàn thân.

Phương pháp chườm lạnh ướt: dùng khăn mặt hoặc vải cũ sạch gập lại thành nhiều lớp, bỏ vào trong nước lạnh hoặc trong nước đóng băng, vắt nửa khô nghĩa là không nhỏ giọt là được, chườm cục bộ. Tốt nhất là dùng hai tấm vải chườm thay nhau, cứ 03 phút thay , đổi một lần, làm liên tục 15-20 phút. Nếu dùng để hạ nhiệt cho bệnh cảm sốt, thì ngoài chỗ chườm trên đầu ra, còn có thể chườm ở các chỗ động mạch lớn đi qua như ổ nách, ở khuỷu tay, ở sau đầu gối, háng.

Phương pháp chườm lạnh bằng túi nước đá: lấy số lượng nước đá vừa phải, đập thành cục to nhỏ bằng quả đào, bỏ vào trong chậu nước, dùng nước dội cho nó tự mất hết các góc cạnh sắc, dồn vào trong túi đựng nước đá, số lượng đầy 1/2 túi là được, cho thêm một lượng vừa phải nước lạnh. Đặt túi nước đá nằm ngang cho không khí ra hết, đậy kín nắp lại, dùng khăn mặt, hoặc vải cũ bao bọc ngoài bao, đặt lên vị trí cần chườm lạnh. Khi trên da cục bộ thay đổi màu sắc, hoặc xuất hiện cảm giác tê dại thì phải ngừng sử dụng. .

Phương pháp lau tắm bằng cồn: cồn rất dễ bốc hơi, dùng cồn lau rửa toàn thân, sẽ nhanh chóng làm cho nhiệt lượng trong cơ thể tỏa ra, phần lớn dùng cho trường hợp cảm sốt cao. Thông thường thi dùng rượu trắng 60° hoặc cồn 70% trộn với nước tỉ lệ 1:1.

Khi lau tắm, trưóc hết đặt túi nước đá hoặc vải chườm lạnh lên đầu của trẻ bị cảm, dùng khăn mùi xoa hoặc vải mềm nhúng cồn lau bên cổ, hai tay, lưng, hai chân, mỗi chỗ lau khoảng 3 phút; khi lau đến dưới nách, khuỷu tay, háng, phía sau đầu gối, chỗ gần huyết quản lớn, phải lau thật chậm  để tăng hiệu quả hạ nhiệt. Lau được 1/2 giờ thì đo lại nhiệt độ cơ thể. Nếu người bệnh xuất hiện hiện tượng lạnh run, mặt tái nhợt, thở và mạch đập thấy không bình thường, thì lập tức ngừng lau, cho uống loại nước uống cung cấp nhiệt.

cach do nhiet do cho tre

Cách đo nhiệt độ cho trẻ em

Để kịp thời biết được nhiệt độ thân thể của trẻ, trong gia đình nên có sẵn cặp nhiệt độ. Phương pháp thựòng dùng để đo nhiệt độ thân thể, có hai loại: một là đo ở nách, hai là đo ở hậu môn.

Cách đo ở nách: đặt 1/3 chiều dài cặp nhiệt độ vào trong nách kẹp chặt lại. Trẻ sơ sinh không thể tự kẹp chặt, người lớn phải dùng tay giữ lấy cánh tay trẻ. Thông thường kẹp sau 5 phút lấy ra, số đọc ở trên cặp nhiệt là bao nhiêu, cộng thêm 0,5°c chính là nhiệt độ thân thể của trẻ. Nếu trẻ ra mồ hôi nhiều, nên lau khô mồ hôi trước, chờ một lát rồi mới đo.

Cách đo ở hậu môn: cách đo này phải dùng loại cặp nhiệt đo ở hậu môn, trước hết dùng cồn lau khử trùng phẫn đầu của cập nhiệt độ, bôi một lớp dầu mỡ mỏng để giảm nhẹ sự kích thích đối với hậu môn, Sáu đó nhẹ nhàng cắm đầu cặp nhiệt độ sâu vào trong hậu môn 2 – 5cm và đồng thời dùng tay giữ chắc một đầu kia của cặp nhiệt độ, đề phòng tuột, rơi vỡ, sau 3 phút thì lấy ra, dùng  giấy xốp mềm lau sạch cặp nhiệt độ.

Bất cứ là cách đo nào, trước khi đo đều phải vẩy cho thủy ngân trong cặp nhiệt độ tụt xuống dưới 35°c. Trước và sau khi sử dụng đều phải dùng cồn 75% lau khử trùng đôi với cặp nhiệt độ.

uong va tiem thuoc o tre em

Hướng dẫn cho uống thuốc và tiêm đối với trẻ em

Một số cha mẹ thích cho trẻ ăn viên thuốc bổ Diệu linh đơn. Thực ra, như vậy là hoàn toàn không nên. Vì thuốc bao giờ cũng có ba phần độc. Thường uống thuốc như vậy không có lợi, đặc biệt là trẻ mới sinh (gan, thận chưa hoàn chinh, năng lực giải độc, bài tiết đối với các vị thuốc còn tương đối kém). Nếu uống quá lượng, hoặc uống thuốc lâu dài sẽ mang lại cho thân thể trẻ nhiều tái hại. Ví dụ: Lục thần hoàn, trong đó có chứa Thiềm tô (độc tô tuyến biểu bì do cóc tiết ra), uống quá lượng sẽ dẫn đến tiêu hóa không tốt, rối loạn tuần hoàn, khó chịu, nôn mửa, thậm chí rối loạn nhịp tim, hoảng sợ. Trẻ mới sinh mỗi lần uống 1 viên, uống liên tục sau 3 – 5 ngày, sẽ có thể xuất hiện tnệu chứng trúng độc nói trến. Loại Aspinne trẻ em dưối 3 tháng, sau khi uống vào, sẽ ra mồ hôi nhiều dẫn đến thoát dương (hạ đường huyết do mất máu mất nước). Chloromycetin dùng uống sau 34 ngày cũng dễ xuất hiện, tnệu chứng trúng độc nghiêm trọng, nôn mửa, bỏ ăn, bụng trướng, khó thở, nhiệt đệ thân thể xuống quá thấp, sắc mặt tái nhợt, y học gọi là chứng tổng hợp trẻ sơ sinh. Nhất là trẻ đẻ non lại càng dễ xảy rà loại phản ứng đó.

Cho dù có một số thuốc bổ dinh dưỡng, tính độc tương đối nhỏ, nhưng nếu uống lâu dài, không lựa chọn, thì cũng sẽ xảy ra những phản ứng không tốt. Ví dụ vitamin c có tác dụng tốt về nhiều mặt đối với sự hoạt động của con người, không những có thể trị bệnh hoại huyết, mà còn có thể chữa trị nhiều bệnh tật khác. Có thể nói nó là một loại thuốc tốt. Thế nhưng trong một thời gian dài uống một lượng lớn, sẽ làm cho nồng độ vitamin c trong máu luôn luôn ở trạng thái bão hòa, dẫn đến muối Oxalate trong máu tăng nhiều, dễ hình thành kết sỏi muôi Oxalate. Hoặc dầu gan cá, là loại thuốc tốt chữa bệnh còng lưng, nhưng nếu uống lượng nhiều quá, thời gian dài, cũng dễ xảy ra trúng độc.

Sản phẩm bổ dinh dưỡng pha chế chuyên dùng cho trẻ, như Phì nhi linh, Tn nhi linh, chứa nhiều loại vitamin, mỡ, protein và đường, có giá trị dinh dưỡng tương đối cao. Nhưng cũng không nên uống lâu dài với lượng lớn. Nếu không sẽ dẫn đến tiêu hóa không tốt, đầy bụng, đi ỉa chảy. Hoặc Ngân nhi (mộc nhi trắng) hàm lượng protein, vitamin đểu rất phong phú, là loại sản phấm dùng tẩm bổ thân thể con người tuyệt vời, thế nhưng ngâm không kĩ, nấu không nhừ, ăn quá lượng, cũng ảnh hưởng tiêu hóa, hấp thụ, ảnh hưởng đến sự thèm ăn. Đường glucose, tinh bột lúa mì, sôcôla, tuy hàm lượng cao, tiêu hóa hấp thụ nhanh, nhưng hàm lượng protein lại rất thấp, cho nên ăn nhiều dễ gây ra thừa nhiệt lượng mà thiếu protein, ảnh hưởng sinh trưởng của trẻ.

Không được rót thuốc cho trẻ

Trẻ ốm là phải cho uống thuốc, nhưng phải chú ý mấy điểm sau đây:

  • Thứ nhất: Thuốc đắng quá thì nên cho ít đường pha trộn đều.
  • Thứ hai: trước khi cho uống thuốc, không nên cho ăn sữa no, đề phòng sau khi ãn no trẻ không chịu uống hoặc sẽ nôn trớ.
  • Thứ ba: khi cho uống thuốc không được bóp mũi rồi rót thuốc vào, đế tránh thuôc sặc vào đường phế quản. Thông thường có thể dùng chiếc thìa con bón vào trong miệng, khi bón đố từ từ vào một bên ở trong vòm miệng. Cũng có thể dùng đầu vú của bình cao su trông rỗng, đặt vào trong vòm miệng trẻ, sau đó rót nước thuốc vào trong đầu vú của bình cho trẻ ăn như ăn sữa. Nếu như nước thuốc trong một lần uống tương đối nhiều, thì có thể trực tiếp đựng vào trong bình sữa rồi cho trẻ mút; nếu là lượng thuốc bột ít, có thể bỏ trực tiếp vào trong miệng trẻ, không cần hòa sẵn trong nước, sau đó dùng nước đường hoặc nước sôi để ấm, cho trẻ uống một chút là có thể đẩy thuốc vào dạ dày. Nếu lượng thuốc : rất ít thì cho uống (nuốt) trực tiếp không cần nước.

Tiêm và uống thuốc

Đặc điểm thuốc tiêm là lượng thuốc chính xác, hấp thụ nhanh, tác dụng nhanh, nhất là tiêm vào trong tinh mạch, có thể hiệu quả ngay lập tức. Đồng thời tiêm có thế tránh được sự phản ứng dạ dày đường ruột mà một số thuốc uống có thể gây nên. Rất nhiều người cho rằng tiêm thuốc tốt hơn uống. Đặc biệt là khi trẻ ốm, bố mẹ rất sợ cho con uống thuổc phải bóp mũi rót rất vất vả, cho nên cứ muốn dùng thuốc tiêm. Thực ra tiêm không thể thay cho uống thuổc. Ví dụ sốt cao mà không giảm, tiêm thuốc giảm sốt cũng còn phải uống thuốc giảm sốt và một số thuốc khác để giữ ổn định. Ngoài ra, tiêm cũng có một số tai hại nhất định. Ví dụ, tiêm làm cho trẻ đau đớn, rất nhiều đứa trẻ sợ tiêm. Thuôc tiêm hấp thụ nhanh, nhưng độc tính và tác dụng độc hại cũng xuất hiện rất nhanh, có thể gây sốc (Shock) nhạy cảm và các phản ứng nghiêm trọng khác. Tiêm thuốc còn dễ gây viêm, làm mủ cục bộ, và các sự cố gẫy kim, cong kim; tiêm còn có thể dễ gây nên các bệnh truyền nhiễm máu, viêm gan virut. Cho nên trẻ em sau khi bị cảm, nếu có thể chữa trị bằng thuốc uống thì không nên tiêm. Cần tiêm thì phải khử trùng một cách nghiêm ngặt, đồng thời phải thực hiện triệt để mỗi người một ống tiêm một kim tiêm, không dùng chung, mà còn cứ mỗi lần tiêm xong là khử trùng một lần.

thoi quen le phep cua be

Tạo thói quen lễ phép cho trẻ em

Làm cha mẹ, không những phải chăm sóc thân thể cho con, mà còn phải chăm sóc về mặt tinh thần cho con nữa. Trẻ sau 1,5 tuổi là có thể biết nói một số lời đơn giản, khả năng nhận biết đối vói người tiếp xúc cũng tương đối tốt, lúc này cha mẹ cần bồi dưỡng cho con vê  thói quen lễ phép, cần dạy trẻ khi nhìn thấy các cô các  cậu thanh niên nam nữ, biết gọi cô, chú, dì. Tuổi cao thì gọi ông, bà; biết vẫy tay chào, tạm biệt. Cùng với sự trưởng thành dần dần của trẻ, những tri thức về phương diện lễ phép, lịch sự phải dùng lời nói và thể hiện bằng thực tế hằng ngày của cha mẹ, chính điềư đó góp phần hình thành nhân cách của trẻ.

-Đề phòng những thói quen xấu xâm nhập. Dạy trẻ đừng ngồi lê la bẩn thỉu trên đất, đừng bỏ những vật bẩn vào trong mồm, đừng khạc nhổ bừa bãi linh tinh, phải huấn luyện cho trẻ dùng tay vắt mũi. Không được dùng ngón tay bẩn ngoáy lỗ mũi, ngoáy tai; không dùng tay dụi mắt; không được đại tiểu tiện lung tung; không được vứt giấy lộn, vỏ trái cây, hoa quả lung tung.

Tạo thói quen vệ sinh sạch sẽ cho trẻ em

Bồi dưỡng cho trẻ một thói quen , yêu sạch sẽ, công tác vệ sinh phải bắt đầu ngay từ nhỏ, bố mẹ không chỉ gương mẫu, mà còn phải đế cho trẻ tự làm.

Giữ sạch da: da trẻ còn rất non và mịn, phải rửa thường xuyên, để tránh nhiễm cáu bẩn như mồ hôi, sữa, đại tiểu tiện, tro bụi quá nhiêu. Nhất là về mùa hè, những chỗ nếp nhăn trên da dễ bị mồ hôi đọng lại làm viêm da; phải tắm rửa luôn, giữ da sạch sẽ, xúc tiến huyết dịch tuần hoàn. Hằng ngày rửa mặt đúng giờ, tối đến rửa chân, định kì gội đầu, tắm, bé gái tối đến còn phải rửa mông bẹn. Khoảng 1 tuổi, phải dạy cho trẻ sáng, tối và trước khi ăn, sau khi đại tiểu tiện phải rửa tay, không dùng tay bốc ăn, không uống nước lã, không ăn quả xanh, quả chín cũng phải rửa sạch gọt vỏ, không vừa ăn vừa chơi đùa.

thoi quen cua tre em

Chăm thay quần áo, chăm cắt móng tay. Chăn đệm của trẻ phải thường xuyên giặt phơi khô. Trẻ em nhất thiết phải dùng riêng chậu rửa mặt, khăn mặt và tất chân, đồng thời phải để nơi cố định.

Đánh răng hợp lí: khi trẻ 2 tuổi, răng sữa đã mọc đủ rồi, nhưng chân răng chưa hình thành hoàn toàn, lợi đang non yếu chưa bám chắc, chất xương răng đang xốp. Lúc này đánh răng, không lợi cho sự phát triển của răng. Ngoài ra, khoảng 2 tuổỉ, răng trẻ con định vị chưa chuẩn, đánh răng sẽ làm răng lung lay chảy máu. Do đó trẻ 1 – 2 tuổi không nên đánh răng, mà chỉ nên dùng sợi vải mềm đã đun sôi, tẩm nước lã đun sôi để nguội, hằng ngày sáng tối lần lượt lầu cho trẻ 1 lần, khi lau chùi phải lau hết tất cả không sót một răng nào. Sau 2 tuổi có thể dạy trẻ dùng nước muối nhạt để súc miệng, buổi sáng súc một lần, buổi tôi súc một lần. Sau 3 tuổi, chân răng, răng sữa đã hoàn chỉnh tương đối khỏe, có thể phương pháp đánh răng đúng đắn! Sáng đánh một lần, tối đánh một lần, đánh sạch hết tất cả những thức ăn tồn đọng lại trong kẽ răng. Bắt đầu có thể chưa dùng kem đánh răng, đề tránh kích thích yết hầu. Bàn chải nên dùng loại nhỏ, hai dãy, chế tạo bằng lông lợn chất mềm. Khi đánh răng nhất thiết phải đánh theo phương thắng đứng kéo lên xuống song song kẽ răng. Tuyệt đôi không được cưa kéo ngang cắt chân răng.

tre em tieu tien

Tạo thói quen đại tiểu tiện cho trẻ

Đại tiểu tiện đúng giờ quy định vừa làm cho dạ dày, đường ruột của trẻ hoạt động có quy luật, vừa tránh được sự khó chịu vì quần lót bị ướt nước đái gây nên (do sự kích thích của chất kiềm trong phân và nước tiểu đối với da của trẻ).

Trường hợp thông thường, chỉ cần trẻ ăn, uống, ngủ có quy luật nhất định. Còn thời gian đại tiểu tiện thì chỉ huấn luyện một vài lần, là có thể hình thành quy luật một cách dễ dàng.

Tiểu tiện ở trẻ sơ sinh là phản xạ vô điều kiện, số lần rất nhiều mà lại không có quy luật, sau 2 – 3 tháng là bắt đầu có thể huấn luyện, dự tính những lúc trẻ có thể tiểu tiện, như trước khi ngủ, sau khi thức, sau khi bú sữa và uống nước khoảng 15 phút, thì bế trẻ và “xi tiểu”, qua một thời gian huấn luyện, khi nước tiểu trong bàng quang của trẻ có rồi nhưng chưa đầy tràn, cởi tã lót ra và nghe tiếng “xi…xi…” là trẻ sẽ đi tiểu.

tre em tieu tien

Cách huấn luyện thói quen đại tiện cũng như vậy. Nói chung trẻ ra đời sau 34 tháng, thời gian đại tiện tương đối cố định. Nếu ta để ý quan sát tỉ mỉ, biểu hiện của trẻ khi sắp đại tiện là: ngừng mọi động tác, đứng im lặng, thừ mặt ra, đồng thời mặt căng và đỏ. Gặp lúc đó là nhanh chóng cho trẻ đại tiện kịp thời. Tốt nhất cố định thời gian đại tiện, đại khái cách sau bón sữa lần đầu gần nhất. Khi cho trẻ đại tiện, nhất thiết phải để cho trẻ có cảm giác dễ chịu, đồng thời phát hiện ra âm thanh ì…ì. Khoảng 5 tháng là bắt đầu có thể cho ngồi bô để đại tiện. Bô tốt nhất đặt ở chỗ cố định, có ánh sáng đầy đủ, tránh để chỗ tối làm trẻ sợ, hình thành điều kiện phản xạ. Địa điểm, tư thế, tiếp xúc với bô, âm thanh đều có thể hình thành điều kiện phản xạ, kích thích trẻ đại tiện. Khi trẻ đại tiện, nếu thời tiết tương đối lạnh, tốt nhất lấy vải cũ mềm, may thành các bọc lồng quanh bô, tránh cho trẻ bị cảm lạnh, hoặc là vì lạnh giá kích thích ảnh hưởng thải phân của trẻ. Khi trẻ đại tiện người lớn phải trực bên cạnh, đồng thời hỗ trợ trẻ bằng cách phát ra âm thanh mũi “ì… ì,..” để trẻ bắt chước “rặn” cho phân ra. Mỗi lần cho trẻ tiểu tiện, đại tiện, thời gian phân biệt tiểu tiện 2 – 3 phút, đại tiện khoảng 10 phút, thời gian không nên quá dài, tránh cho trẻ khỏi mỏi mệt, thậm chí sinh ra né tránh kiểu này. Qua huấn luyện nhiều lần, nhất định sẽ thành công.

Chỉ cần kiên trì huấn luyện, nói chung trẻ em khoảng 1 tuổi rưỡi là có năng lực khống chế đại tiện, khoảng 2 tuổi có khả năng khống chế tiểu tiện, 3 – 4 tuổi tự đi nhà xí được.